Trong bối cảnh Sàn giao dịch các-bon Việt Nam dự kiến vận hành từ tháng 5/2026, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) vừa tổ chức hội thảo “Tăng cường năng lực sẵn sàng tham gia thị trường carbon tại Việt Nam”. Sự kiện nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp thuộc diện được phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính nâng cao năng lực tuân thủ, hoàn thiện hệ thống đo lường – báo cáo – kiểm chứng (MRV) và chủ động chuẩn bị cho “luật chơi” mới của thị trường. Sàn giao dịch các-bon Việt Nam được kỳ vọng trở thành một cấu phần quan trọng của hệ thống tài chính, không chỉ nhằm kiểm soát phát thải mà còn mở ra một “sân chơi” mới, buộc doanh nghiệp phải tái định hình chiến lược theo hướng bền vững. Nền tảng pháp lý cho thị trường này đã cơ bản hoàn thiện với Nghị định 29/2026/NĐ-CP và Quyết định 263/QĐ-TTg về phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính giai đoạn 2025–2026. Đây được xem là bước chuyển từ xây dựng chính sách sang triển khai thực tiễn, đưa cơ chế thị trường vào bài toán giảm phát thải. Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) là đơn vị trực tiếp vận hành sàn, trên nền tảng hạ tầng của thị trường chứng khoán hiện hữu, trong khi Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC) đảm nhiệm lưu ký, thanh toán. Bộ Nông nghiệp và Môi trường quản lý hệ thống đăng ký quốc gia và phân bổ hạn ngạch. Mô hình liên thông, khép kín này được kỳ vọng đảm bảo tính minh bạch và an toàn cho toàn bộ quá trình từ cấp phép đến giao dịch. Ở góc độ thị trường, thanh khoản trong giai đoạn đầu được dự báo còn hạn chế do quy mô nhỏ và thiếu vắng nhà đầu tư tài chính. Các yếu tố kỹ thuật như hệ thống MRV, tiêu chuẩn tín chỉ và khả năng liên thông quốc tế sẽ đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng thị trường. Ông Đào Tuấn Trung, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Chứng khoán VietinBank (VBSE) cho rằng, Việt Nam sở hữu nhiều lợi thế cạnh tranh để phát triển thị trường này. Trước hết là tiềm năng hấp thụ các-bon đáng kể, ước tính từ 50–70 triệu tấn CO2 mỗi năm, tạo dư địa lớn cho việc hình thành và giao dịch tín chỉ. Bên cạnh đó, hệ sinh thái tự nhiên đa dạng với diện tích rừng lớn, cùng các lĩnh vực như nông nghiệp chất lượng cao và năng lượng tái tạo phát triển nhanh, được xem là “mỏ vàng” để tạo nguồn cung tín chỉ các-bon trong tương lai. Một điểm cộng khác nằm ở chi phí tạo lập tín chỉ. So với nhiều quốc gia trong khu vực ASEAN, chi phí nhân công và vận hành tại Việt Nam ở mức cạnh tranh, giúp tối ưu hóa biên lợi nhuận khi tham gia thị trường quốc tế. Điều này tạo điều kiện để các doanh nghiệp không chỉ đáp ứng nghĩa vụ phát thải trong nước mà còn có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị các-bon toàn cầu. “Về phía VBSE sẽ đồng hành cùng doanh nghiệp và cơ quan chức năng tham gia triển khai các hoạt động giao dịch chứng chỉ carbon thời gian tới”. Ông Đào Tuấn Trung, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Chứng khoán VietinBank (VBSE) chia sẻ tại hội thảo. Từ thực tiễn nghiên cứu, VBSE đề xuất ba nhóm giải pháp trọng tâm. Thứ nhất, sớm hoàn thiện khung pháp lý và chuẩn mực kế toán đối với hạn ngạch phát thải, coi đây là một loại tài sản có thể định lượng trong báo cáo tài chính. Thứ hai, chuẩn hóa hệ sinh thái thị trường, đặc biệt là xây dựng “ngôn ngữ chung” về đo lường và báo cáo phát thải nhằm đảm bảo chất lượng dữ liệu đầu vào. Thứ ba, phát triển hạ tầng theo lộ trình từng bước, ưu tiên vận hành ổn định cơ chế hạn ngạch trước khi mở rộng sang các cấu phần phức tạp hơn. Ở góc độ triển khai, các công ty chứng khoán được kỳ vọng đóng vai trò cầu nối quan trọng. VBSE là một trong những đơn vị tiên phong chuẩn bị nguồn lực, từ hệ thống giao dịch, bộ phận nghiên cứu đến quy trình hỗ trợ doanh nghiệp tham gia thị trường. Về dài hạn, khi khung pháp lý hoàn thiện và khả năng kết nối quốc tế được cải thiện, thị trường các-bon có thể trở thành một kênh huy động vốn hiệu quả cho các dự án xanh, đồng thời thúc đẩy sự hình thành của các sản phẩm tài chính bền vững. Được biết, trong giai đoạn thí điểm, khoảng 110 doanh nghiệp thuộc các ngành phát thải lớn như điện, thép, xi măng sẽ được phân bổ hạn ngạch và tham gia thị trường. Theo cơ chế vận hành, doanh nghiệp phát thải vượt hạn mức phải mua thêm hạn ngạch hoặc tín chỉ, trong khi những đơn vị kiểm soát tốt có thể bán phần dư để tạo lợi nhuận. Đáng chú ý, cơ chế này đưa chi phí phát thải trở thành một biến số tài chính cụ thể. Trong ngắn hạn, áp lực chi phí có thể gia tăng, đặc biệt với các doanh nghiệp công nghệ lạc hậu. Tuy nhiên, về dài hạn, đây là động lực thúc đẩy chuyển đổi xanh và tối ưu hóa sản xuất. Sự ra đời của sàn giao dịch các-bon vì vậy không chỉ là một bước tiến về chính sách môi trường, mà còn là phép thử đối với năng lực thích ứng của doanh nghiệp. Trong “luật chơi”
Lời giải chiến lược của Petrovietnam trong chuyển dịch xanh
Petrovietnam đang đẩy mạnh phát triển Trung tâm năng lượng tích hợp như một định hướng chiến lược dài hạn, nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia gắn với phát triển bền vững. Tối ưu chuỗi giá trị, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn Theo định hướng của Petrovietnam, Trung tâm năng lượng tích hợp được phát triển như một mô hình tổ hợp quy mô lớn, kết nối toàn bộ chuỗi giá trị từ khai thác, nhập khẩu, tồn trữ, chế biến đến phân phối các nguồn năng lượng như khí, LNG, điện và năng lượng tái tạo. Việc hình thành Trung tâm năng lượng tích hợp giúp Petrovietnam tối ưu hạ tầng, giảm chi phí logistics và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên. Điểm nổi bật của Trung tâm năng lượng tích hợp là việc áp dụng nguyên lý kinh tế tuần hoàn và cộng sinh công nghiệp. Các dòng năng lượng, nguyên liệu và phụ phẩm được tái sử dụng linh hoạt giữa các đơn vị trong cùng hệ thống, góp phần giảm chi phí sản xuất, đồng thời hạn chế phát thải và tác động đến môi trường. Đây là yếu tố ngày càng quan trọng trong bối cảnh ngành năng lượng phải thích ứng với các tiêu chuẩn phát triển bền vững. Bên cạnh đó, việc tích hợp đa dạng các loại hình năng lượng trong cùng một hệ thống giúp Petrovietnam tối ưu vận hành, nâng cao hiệu suất tổng thể và tăng khả năng thích ứng trước những biến động của thị trường năng lượng toàn cầu. Bảo đảm an ninh năng lượng, dẫn dắt chuyển dịch xanh Trong bối cảnh nguồn năng lượng truyền thống có xu hướng suy giảm, trong khi nhu cầu tiêu thụ ngày càng gia tăng, Trung tâm năng lượng tích hợp giúp Petrovietnam chủ động hơn trong cân đối cung – cầu, bảo đảm nguồn cung ổn định cho nền kinh tế, đặc biệt là các lĩnh vực sản xuất công nghiệp và nông nghiệp. Mô hình Trung tâm năng lượng tích hợp đồng thời tạo điều kiện để Petrovietnam thúc đẩy chuyển dịch sang các nguồn năng lượng sạch hơn như khí tự nhiên, LNG và năng lượng tái tạo – những nguồn năng lượng có mức phát thải thấp, phù hợp với xu thế phát triển xanh. Không chỉ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, Trung tâm năng lượng tích hợp còn giúp Petrovietnam từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng năng lượng khu vực và quốc tế, qua đó tăng khả năng thích ứng trước các biến động về địa chính trị và giá năng lượng. Về dài hạn, chiến lược phát triển Trung tâm năng lượng tích hợp của Petrovietnam được đánh giá phù hợp với cam kết giảm phát thải ròng của Việt Nam, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”. Thông qua việc ứng dụng công nghệ hiện đại và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, Petrovietnam đang từng bước khẳng định vai trò nòng cốt trong quá trình chuyển dịch năng lượng quốc gia. Nguồn:https://nongnghiepmoitruong.vn/loi-giai-chien-luoc-cua-petrovietnam-trong-chuyen-dich-xanh-d808960.html
Thủ tướng Phạm Minh Chính: Giảm phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 là sứ mệnh chính trị của quốc gia
Chiều 14-1, kết luận Phiên họp lần thứ 6 của Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai thực hiện cam kết của Việt Nam tại Hội nghị COP26 (Ban Chỉ đạo COP26), Thủ tướng Phạm Minh Chính, Trưởng ban Chỉ đạo nhấn mạnh, việc thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” là thách thức nhưng cũng là cơ hội để phát triển đất nước bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập. Chuyển đổi từ cam kết sang kết quả cụ thể Tại phiên họp, các đại biểu đã tập trung trao đổi, thảo luận, đánh giá toàn diện kết quả thực hiện các cam kết tại COP26 thời gian qua; những hạn chế, khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân; bài học kinh nghiệm và các nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới. Các đại biểu đề xuất nhiều giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm, đột phá cần ưu tiên nhằm thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững, cân bằng giữa phát triển xanh với mục tiêu tăng trưởng 2 con số liên tục trong thời gian tới. Từ sau Phiên họp lần thứ 5 của Ban Chỉ đạo, các bộ, ngành và Ban Chỉ đạo đã tích cực triển khai nhiệm vụ, đạt kết quả quan trọng. Trong đó, Ban Chỉ đạo đã được kiện toàn theo cơ cấu tổ chức mới của Chính phủ; rà soát, bổ sung và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, trong đó có Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị. Chính phủ đã trình Quốc hội thông qua 8 luật; xây dựng, ban hành 15 nghị định, 16 nghị quyết, quyết định liên quan triển khai thực hiện cam kết của Việt Nam tại COP26. Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì phiên họp lần thứ 6 Ban Chỉ đạo thực hiện cam kết của Việt Nam tại COP26. Ảnh: TTXVN Các bộ, ngành, địa phương thúc đẩy mạnh mẽ giảm phát thải nhà kính, thí điểm phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính; có bước đi phát triển thị trường carbon, trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải nhà kính và tín chỉ carbon; thúc đẩy điện khí hóa giao thông, phát triển giao thông xanh và hạ tầng xanh; phát triển mạnh năng lượng tái tạo, thúc đẩy chuyển đổi năng lượng; phát triển nông nghiệp bền vững, bảo vệ và phát triển rừng. Các bên liên quan tăng cường dự báo, cảnh báo thiên tai, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; huy động và sử dụng hiệu quả tài chính xanh, tín dụng xanh; thúc đẩy các nhiệm vụ thực hiện mục tiêu kép chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; tích cực tham gia các diễn đàn quốc tế về biến đổi khí hậu, mở rộng quan hệ đối tác chiến lược; nhiều doanh nghiệp chuyển hướng mạnh mẽ sang đầu tư xanh, công nghệ sạch, mô hình phát thải thấp… Kết luận phiên họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định sự đúng đắn khi Việt Nam cam kết mạnh mẽ tại COP26 về cùng hành động để đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050; thực hiện sứ mệnh cùng toàn cầu chống biến đổi khí hậu. Thủ tướng ghi nhận và đánh giá cao tinh thần chủ động, nghiêm túc và nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và người dân trong việc triển khai các cam kết của Việt Nam tại COP26 thời gian qua. Những kết quả bước đầu đã tạo nền tảng quan trọng để chúng ta tiến xa hơn trên hành trình thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Thủ tướng chỉ rõ, các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp tích cực tham gia chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, phát triển kinh tế carbon thấp, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi năng lượng. Công tác thể chế hóa lồng ghép các nội dung cam kết tại COP26 vào hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chiến lược được triển khai kịp thời, hiệu quả, tạo nền tảng pháp lý thúc đẩy giảm phát thải khí nhà kính, chuyển đổi xanh, thích ứng với biến đổi khí hậu. Việt Nam đã trở thành điểm đến tin cậy, hấp dẫn, được nhiều tổ chức quan tâm; thu hút được các nguồn tài chính và nhà đầu tư quốc tế trong lĩnh vực phát triển xanh, chuyển đổi năng lượng. Nhiều tập đoàn, doanh nghiệp quốc tế uy tín đã đến Việt Nam khảo sát, tìm kiếm cơ hội hợp tác về các lĩnh vực năng lượng tái tạo, dự án giảm phát thải khí nhà kính, tạo tín chỉ carbon. Các thỏa thuận hợp tác, bản ghi nhớ giữa doanh nghiệp Việt Nam và các định chế tài chính, tổ chức tín dụng quốc tế đã được ký kết, từng bước triển khai, từ đó huy động được nguồn lực phục vụ quá trình chuyển đổi xanh và thực hiện cam kết tại COP26. Nhận thức, trách nhiệm của người dân, doanh nghiệp trong bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu được nâng cao như ưu tiên tiêu dùng xanh, trồng cây, bảo vệ rừng, sử dụng năng lượng sạch, chủ động ứng phó trong thiên tai, bão lũ; đào tạo, nghiên cứu khoa học được đẩy mạnh… Thủ tướng thẳng thắn chỉ rõ những tồn tại, hạn chế như tiến độ triển khai một số nhiệm vụ, dự án trong khuôn khổ Tuyên bố JETP và AZEC còn chưa đạt hiệu quả như mong muốn, nhất là trong việc huy động nguồn lực quốc tế. Việc thực hiện các đóng góp về giảm phát thải khí nhà kính, thích ứng với biến đổi khí hậu trong Đóng góp do quốc gia
Bộ NN-MT yêu cầu các nhà máy nhiệt điện thực hiện nghiêm bảo vệ môi trường
Nhà máy nhiệt điện phải bảo đảm điều kiện vận hành ổn định, đặc biệt là trong các tháng cao điểm mùa khô. Ảnh: Minh Hoàng. Các nhà máy nhiệt điện cần thực hiện nghiêm bảo vệ môi trường, bảo đảm không ảnh hưởng đến việc huy động các tổ máy phát điện trong các tháng cao điểm mùa khô. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa gửi Công văn số 4187/BNNMT-MT tới các chủ đầu tư, đơn vị vận hành nhà máy nhiệt điện trên cả nước về việc thực hiện công tác bảo vệ môi trường đối với các nhà máy nhiệt điện, bảo đảm không ảnh hưởng đến việc huy động các tổ máy phát điện trong các tháng cao điểm mùa khô. Trên cơ sở rà soát, kiểm tra tổng thể tình trạng hệ thống xử lý khí thải, kịp thời khắc phục tình trạng xuống cấp (nếu có), các hư hỏng khác và có kế hoạch định kỳ bảo dưỡng, sửa chữa, thay thế vật tư, hóa chất, thiết bị đối với hệ thống xử lý khí thải theo hướng chủ động, ưu tiên thực hiện trước mùa khô hoặc bố trí trong các thời điểm phụ tải thấp; tổ chức thực hiện các giải pháp kỹ thuật và quản lý vận hành theo phương châm “phòng ngừa từ sớm, từ xa”; ưu tiên thực hiện các giải pháp có thể triển khai ngay, không làm gián đoạn vận hành các tổ máy phát điện. Trường hợp phải thực hiện bảo dưỡng, sửa chữa, cải tạo thiết bị có khả năng ảnh hưởng đến công tác huy động công suất phát điện thì cần lập kế hoạch cụ thể, phối hợp với đơn vị điều độ hệ thống điện để bố trí thời gian thực hiện phù hợp với kế hoạch huy động điện trong mùa khô theo chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền. Chủ đầu tư, đơn vị vận hành nhà máy nhiệt điện xem xét, lựa chọn, kết hợp thực hiện một số biện pháp cụ thể đối với công tác vận hành tổ máy phát điện và hệ thống xử lý bụi, khí thải. Trong đó, tăng cường kiểm soát chặt chẽ chất lượng nhiên liệu đầu vào, đặc biệt là các chỉ tiêu kỹ thuật về hàm lượng lưu huỳnh, tro, độ ẩm trong than. Đây là cơ sở dự báo nồng độ phát thải đối với các thông số ô nhiễm cơ bản trong khí thải (SO2, NOx và bụi tổng) và điều chỉnh tỷ lệ phối trộn nhiên liệu phù hợp. Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các đơn vị không tiếp nhận than không bảo đảm chất lượng theo thiết kế công nghệ của tổ máy. Bên cạnh đó, duy trì và tăng cường bề mặt trao đổi nhiệt (thông qua cơ chế nghiền than, chế độ cấp gió, xử lý xỉ lò), bảo đảm hiệu suất cháy ổn định, hạn chế dao động tải nhằm vận hành tổ máy ở chế độ tối ưu đồng thời hạn chế tối đa việc thay đổi đột biến về nồng độ của các thông số ô nhiễm trong khí thải. Thiết lập ngưỡng cảnh báo nội bộ về ô nhiễm khí thải Để tăng cường khả năng vận hành hiệu quả hệ thống xử lý khí thải, giảm thiểu nguy cơ xả khí thải vượt quy chuẩn kỹ thuật môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường khuyến nghị thiết lập ngưỡng cảnh báo nội bộ về các thông số ô nhiễm trong khí thải (như CO, NOx, SO2, bụi tổng) phù hợp để chủ động điều chỉnh tỷ lệ thành phần nhiên liệu, chế độ vận hành của tổ máy; kết hợp tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá tình trạng, hiệu suất hoạt động của các thiết bị trong hệ thống xử lý khí thải (bao gồm các hoạt động như kiểm soát tình trạng hoạt động của các bản cực, bộ chỉnh lưu đối với lọc bụi tĩnh điện (ESP) hoặc các túi lọc, hệ thống rũ bụi đối với lọc bụi túi vải; kiểm soát pH, lưu lượng tuần hoàn của dung dịch hấp thụ, tỷ lệ cấp đá vôi, tình trạng đóng cặn trên đường ống và trong tháp hấp thụ đối với hệ thống khử SO2; sử dụng đầu đốt low-NOx, điều chỉnh hệ số cấp khí, sử dụng hóa chất khử (ure hoặc amoniac) với liều lượng phù hợp đối với hệ thống khử NOx (không xúc tác hoặc có xúc tác, SNCR/SCR)…). Ngoài ra, đối với các hạng mục cải tạo, nâng cấp có yêu cầu chi phí đầu tư lớn (các thiết bị ESP, khử SO2, SCR trong hệ thống xử lý khí thải) cần phải xây dựng kế hoạch thực hiện theo lộ trình cụ thể, hạn chế tối đa ảnh hưởng đến việc huy động các tổ máy phát điện trong các tháng cao điểm mùa khô và các năm tiếp theo. Trước đó, ngày 30/12/2024, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) ban hành Thông tư số 45/2024/TT-BTNMT ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp (QCVN 19:2024/BTNMT), có hiệu lực kể từ ngày 1/7/2025. Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Thông tư số 45/2024/TT-BTNMT, kể từ ngày 1/7/2025 đến hết ngày 31/12/2031, các cơ sở nhà máy nhiệt điện đã đi vào vận hành, dự án nhà máy nhiệt điện đã có quyết định phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ đầy đủ, hợp lệ đề nghị thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, cấp giấy phép môi trường hoặc đăng ký môi trường trước ngày 1/7/2025 được tiếp tục
Quỹ đất nông nghiệp còn dư địa
Giá trị sản xuất trên 1 ha đất nông nghiệp bình quân cả nước còn chênh lệch lớn giữa các vùng, dao động từ 80-200 triệu đồng/ha/năm, cho thấy dư địa nâng cao hiệu quả còn rất lớn. Ảnh: Trường Giang. Gần 1 triệu ha đất chưa sử dụng, đất hoang hóa còn lớn đòi hỏi chính sách mạnh mẽ để đưa vào khai thác, tạo động lực tăng trưởng cho ngành nông nghiệp. Nâng hiệu quả sử dụng Hơn một thập kỷ qua, bức tranh sử dụng đất của Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý. Đất nông nghiệp không những không thu hẹp, mà còn tăng từ 26,23 triệu ha năm 2011 lên hơn 28,15 triệu ha vào năm 2024, tiếp tục chiếm tới gần 85% diện tích tự nhiên. Trong đó, đất trồng lúa duy trì khoảng 3,5 triệu ha, cơ bản bảo đảm mục tiêu an ninh lương thực quốc gia. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, diện tích đất chưa sử dụng đã giảm mạnh từ 3,16 triệu ha (2011) xuống còn chưa đầy 1 triệu ha (2024), đồng nghĩa với việc hơn 2,2 triệu ha đất đã được đưa vào khai thác. Trong nội bộ đất nông nghiệp cũng có sự chuyển đổi. Giai đoạn 2021-2024, nhiều địa phương đã chuyển đổi hàng trăm nghìn hecta đất trồng lúa kém hiệu quả sang cây trồng khác hoặc nuôi trồng thủy sản, giúp tăng giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích từ 1,2-1,5 lần so với trước. Nhiều vùng sản xuất tập trung, chuyên canh quy mô lớn đã hình thành; tỷ lệ cơ giới hóa trong sản xuất lúa ở một số vùng trọng điểm đạt trên 90% khâu làm đất và thu hoạch. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng đất vẫn chưa đồng đều. Giá trị sản xuất trên 1 ha đất nông nghiệp bình quân cả nước còn chênh lệch lớn giữa các vùng, dao động từ 80-200 triệu đồng/ha/năm, cho thấy dư địa nâng cao hiệu quả còn rất lớn. Tổ chức lại cách khai thác nguồn lực đất đai Theo thống kê, năm 2024, diện tích đất chưa sử dụng của cả nước còn 954,95 nghìn ha, chiếm 2,88% diện tích đất tự nhiên. Đây là nguồn dự trữ quan trọng, nhưng không dễ khai thác. Đa số diện tích đất chưa sử dụng phân bố phân tán ở khu vực miền núi hoặc ở vùng khó khăn, có địa hình cao, hiểm trở, độ dốc lớn, độ dày tầng đất mỏng; một số diện tích ở khu vực ven biển nhiễm phèn, nhiễm mặn… nên mức độ khai thác, cải tạo rất hạn chế. Muốn khai thác hiệu quả đòi hỏi chi phí đầu tư lớn về hạ tầng, công nghệ. Thực tế, tiềm năng đất chưa sử dụng để mở rộng cho sản xuất nông nghiệp là hạn chế, chủ yếu là tiềm năng để phát triển lâm nghiệp nhằm nâng cao tỷ lệ che phủ, góp phần bảo vệ đất và môi trường sinh thái; một phần nhỏ đáp ứng cho các mục đích phi nông nghiệp. Bởi vậy, việc nâng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp nằm ở chính phần đất đang có những sử dụng kém hiệu quả. Thực tế cũng cho thấy, khi được tổ chức lại, đất đai có thể nhanh chóng trở thành nguồn lực lớn. Tại Đồng Tháp Mười khu vực tỉnh Long An (cũ) vốn là một vùng “bưng sậy hoang” trước đây, đất phèn nặng, ngập nước, gần như không thể canh tác. Nhưng với việc đầu tư thủy lợi và chính sách khai hoang, sau hơn 30 năm, khu vực này đã trở thành một trong những vựa lúa lớn của cả nước, đóng góp hàng triệu tấn lương thực mỗi năm. Hay hàng trăm hecta ruộng nước ở xã vùng cao Phước Năng (huyện Phước Sơn, Quảng Nam cũ, nay là TP Đà Nẵng mới) từ chỗ bị bỏ hoang nay trở thành cánh đồng màu mỡ, với những vụ mùa bội thu. Cách làm của Phước Năng là người dân cải tạo ruộng, chính quyền cho máy móc xuống giúp dân cày bừa, rồi cấp giống lúa, cấp phân cho bà con gieo trồng. Cán bộ xã xuống tận ruộng chỉ cách bà con cấy lúa, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh để sản xuất lúa hữu cơ. Sau hơn 5 năm, nhờ khai hoang, cải tạo, cánh đồng lúa rộng hơn 120ha nay đã cho sản xuất 2 vụ, với năng suất cao không thua kém đồng bằng Hiện thực hóa bằng thể chế, chính sách Thực tế hiện nay cho thấy, điểm nghẽn lớn nhất không phải thiếu đất, mà là đất bị chia nhỏ, khó tích tụ; cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp tích tụ ruộng đất chưa linh hoạt; quy hoạch vùng sản xuất chưa rõ ràng; thiếu liên kết với doanh nghiệp… Cần cơ chế bảo đảm quyền lợi cho người dân khi góp đất; sự quyết liệt của chính quyền địa phương; liên kết sản xuất – tiêu thụ bền vững hơn. Ảnh: Thanh Tâm. Nhiều nơi, doanh nghiệp muốn đầu tư nhưng không thể gom đủ quỹ đất. Ngược lại, người dân có đất nhưng không đủ điều kiện sản xuất hiệu quả. Kết quả là đất bị bỏ hoang hoặc sử dụng kém hiệu quả. Đây là một dạng lãng phí nguồn lực rất rõ ràng. Nghị quyết 18-NQ/TW đã đặt ra yêu cầu rõ ràng, phải có chính sách phù hợp để khai thác hiệu quả đất nông nghiệp, phát huy tối đa giá trị nguồn lực đất đai. Các chủ trương về tích tụ, tập trung đất đai, dồn điền đổi thửa, phát triển vùng nguyên liệu, thu hút doanh nghiệp vào nông nghiệp đã được triển khai. Trong bối cảnh Luật Đất đai tiếp tục được sửa đổi, bổ sung, kỳ vọng việc thể chế hóa
Thái Nguyên mở rộng rừng FSC nhằm mục tiêu tăng trưởng xanh
Thái Nguyên có nhiều điều kiện để tham gia thị trường tín chỉ carbon. Ảnh: Quang Linh. Sở hữu hơn 557.000 ha rừng, Thái Nguyên đang phát huy thế mạnh lâm nghiệp, mở rộng rừng FSC, nâng giá trị gỗ xuất khẩu, tạo nền tảng tham gia thị trường tín chỉ carbon. Rừng FSC nâng giá trị kinh tế lâm nghiệp Sau sáp nhập đơn vị hành chính, lâm nghiệp tiếp tục là lĩnh vực kinh tế thế mạnh của tỉnh Thái Nguyên với hơn 557.000 ha rừng, tỷ lệ che phủ trên 62%, cao hơn mức bình quân chung của cả nước. Diện tích rừng lớn cùng độ che phủ cao không chỉ tạo sinh kế cho người dân mà còn hình thành nguồn dự trữ carbon tự nhiên có giá trị, mở ra tiềm năng tham gia thị trường tín chỉ carbon trong tương lai. Đáng chú ý, diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã đạt hơn 37.500 ha, cùng hơn 42.000 ha rừng gỗ lớn. Đây được xem là bước tiến quan trọng trong quá trình nâng cao chất lượng và giá trị ngành lâm nghiệp địa phương. Chứng chỉ FSC góp phần nâng cao giá trị gỗ xuất khẩu vào các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản…, đồng thời mở ra điều kiện tham gia thị trường carbon. Việc phát triển rừng FSC cũng giúp tăng tính minh bạch trong quản lý tài nguyên rừng, đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng cao của các thị trường quốc tế. Tại xã Yên Trạch, từ chỗ canh tác manh mún, hiệu quả thấp, nhiều hộ dân đã chủ động đầu tư trồng rừng tập trung bằng giống chất lượng cao, áp dụng quy trình kỹ thuật bài bản. Rừng FSC với các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về môi trường, xã hội và kinh tế đang từng bước được người dân quan tâm, lựa chọn như hướng đi lâu dài. Với hơn 10 năm gắn bó cùng nghề rừng, ông Âu Văn Nghị, người dân xóm Kẻm, xã Yên Trạch, nhận thức rõ việc tham gia FSC giúp nâng cao thu nhập và gia tăng giá trị lâm sản. Tuy nhiên, với nhiều hộ dân còn hạn chế kinh nghiệm, nhu cầu được hỗ trợ về kỹ thuật canh tác, giống cây trồng và vật tư sản xuất vẫn rất cần thiết để mở rộng diện tích rừng đạt chuẩn. Theo kế hoạch năm 2026, Thái Nguyên phấn đấu trồng rừng tập trung đạt 7.500 ha, trồng 1,5 triệu cây phân tán, duy trì tỷ lệ che phủ rừng ổn định từ 60% trở lên. Đây là những chỉ tiêu quan trọng nhằm phát huy hiệu quả tiềm năng tài nguyên rừng, đồng thời tạo nền tảng mở rộng vùng rừng gỗ lớn và rừng FSC. Nền tảng tăng trưởng xanh Xã Yên Trạch là một trong các địa phương phát triển lâm nghiệp mạnh tại Thái Nguyên. Ảnh: Quang Linh. Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh, ngành Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Thái Nguyên đã chỉ đạo các đơn vị chuyên môn cùng chính quyền các xã, phường rà soát diện tích đất đủ điều kiện đưa vào thiết kế trồng rừng năm 2026; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng lâm nghiệp theo hướng trồng rừng gỗ lớn, nâng cao giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích. Song song với đó, các cơ sở sản xuất giống đã chủ động gieo ươm, chuẩn bị nguồn cây giống phục vụ kế hoạch trồng rừng với số lượng ước đạt trên 35 triệu cây, bảo đảm đáp ứng nhu cầu trong năm. Tính đến ngày 20/4, diện tích trồng rừng tập trung toàn tỉnh đạt gần 3.400 ha, bằng 45,2% kế hoạch năm; trồng được trên 485 nghìn cây phân tán, bằng 32,4% kế hoạch. Mới đây, UBND tỉnh Thái Nguyên đã ban hành Kế hoạch số 178/KH-UBND về tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng năm 2026. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật về lâm nghiệp, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân trong quản lý, bảo vệ rừng. Bên cạnh nhiệm vụ bảo vệ rừng, tỉnh Thái Nguyên tiếp tục chú trọng phát triển kinh tế lâm nghiệp bền vững, khuyến khích trồng rừng gỗ lớn, phát triển lâm sản ngoài gỗ, dược liệu dưới tán rừng và xây dựng chuỗi liên kết từ trồng, chăm sóc, khai thác đến chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Với nền tảng tài nguyên rừng dồi dào cùng định hướng phát triển rõ ràng, Thái Nguyên đang từng bước khẳng định vai trò của lâm nghiệp trong cơ cấu kinh tế địa phương. Trong đó, mở rộng diện tích rừng FSC được xem là hướng đi then chốt để nâng cao giá trị rừng, gia tăng thu nhập cho người dân và tạo động lực cho tăng trưởng xanh, bền vững trong những năm tới. Nguồn:https://nongnghiepmoitruong.vn/thai-nguyen-mo-rong-rung-fsc-nham-muc-tieu-tang-truong-xanh-d808982.html
Đà Nẵng ban hành chính sách mới hỗ trợ hoạt động khuyến nông
Mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật được hỗ trợ phát triển theo chính sách khuyến nông, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất cho người dân. Ảnh: Phạm Huy. Thành phố triển khai nhiều mức hỗ trợ cho đào tạo, xây dựng mô hình, ứng dụng công nghệ cao, tạo động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hiệu quả, bền vững, lâu dài. UBND thành phố Đà Nẵng vừa ban hành Quyết định số 1836/QĐ-UBND ngày 24/04/2026 triển khai thực hiện Nghị quyết số 12/2026/NQ-HĐND của HĐND thành phố, quy định nội dung và mức chi hỗ trợ cho các hoạt động khuyến nông từ ngân sách nhà nước trên địa bàn. Theo quyết định, nhiều nội dung chi cho hoạt động đào tạo, tập huấn, xây dựng mô hình và xúc tiến khuyến nông được quy định cụ thể. Đối với các lớp bồi dưỡng, tập huấn dưới 5 ngày, mức chi biên soạn tài liệu là 70.000 đồng/trang, biên tập 40.000 đồng/trang, thẩm định 30.000 đồng/trang; tài liệu bằng tiếng dân tộc thiểu số được áp dụng mức chi cao hơn 30%. Các mô hình khuyến nông được hỗ trợ theo từng địa bàn, góp phần thúc đẩy ứng dụng kỹ thuật, nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Ảnh: Phạm Huy. Chính sách cũng quy định hỗ trợ đáng kể cho học viên tham gia đào tạo khuyến nông. Trong đó, người tham gia có thể được hỗ trợ tối đa 100% chi phí tài liệu học; hỗ trợ tiền ăn cao nhất 300.000 đồng/người/ngày đối với một số nhóm đối tượng do cấp thành phố tổ chức, cùng hỗ trợ đi lại tối đa 300.000 đồng/người/khóa và hỗ trợ chỗ ở theo mức quy định hiện hành. Đối với hoạt động thông tin tuyên truyền, hội thảo, hội chợ, triển lãm nông nghiệp, nghị quyết quy định báo cáo viên được hỗ trợ 1,5 triệu đồng/báo cáo, chủ trì 1 triệu đồng/buổi; các đơn vị tham gia hội chợ được hỗ trợ tối đa 15-20 triệu đồng/lần, không quá 2 lần mỗi năm. Đáng chú ý, mức hỗ trợ xây dựng mô hình khuyến nông được quy định theo từng địa bàn. Mô hình trình diễn tại vùng đặc biệt khó khăn được hỗ trợ tối đa 100% chi phí giống, vật tư thiết yếu nhưng không quá 3 tỷ đồng/mô hình; khu vực miền núi hỗ trợ tối đa 70%; các địa bàn còn lại tối đa 50%. Riêng mô hình ứng dụng công nghệ cao được hỗ trợ tối đa 40% tổng kinh phí, không quá 5 tỷ đồng/mô hình. Nghị quyết cũng quy định các khoản chi cho tư vấn, hợp tác quốc tế, thuê chuyên gia, mua bản quyền công nghệ và kinh phí quản lý nhiệm vụ khuyến nông. Cơ quan quản lý được trích 3% kinh phí để phục vụ công tác quản lý, đơn vị triển khai được trích 5% cho tổ chức thực hiện. UBND thành phố giao Sở Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn định mức kỹ thuật, phân bổ dự toán kinh phí, theo dõi, kiểm tra và tổng hợp tình hình thực hiện; Sở Tài chính tham mưu nguồn kinh phí, hướng dẫn sử dụng đúng quy định; UBND các xã, phường chịu trách nhiệm tổ chức triển khai, kiểm tra, giám sát và định kỳ báo cáo kết quả thực hiện công tác khuyến nông trên địa bàn theo quy định. Nguồn:https://nongnghiepmoitruong.vn/da-nang-ban-hanh-chinh-sach-moi-ho-tro-hoat-dong-khuyen-nong-d809020.html
Hội nghị ‘Phát triển nông nghiệp hàng hóa, dược liệu theo hướng kinh tế xanh’
Việt Nam nhận 51,5 triệu USD từ WB cho giảm phát thải carbon
Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở khu vực Đông Á Thái Bình Dương nhận được khoản thanh toán dựa trên kết quả giảm phát thải từ Quỹ Đối tác carbon Lâm nghiệp (FCPF) của Ngân hàng Thế giới. Đây là khoản chi trả đơn lẻ lớn nhất từng có từ Quỹ FCPF cho các kết quả giảm phát thải đã được xác minh và chất lượng cao… Ngày 21/3/2024, Ngân hàng Thế giới phát thông cáo công bố, Việt Nam đã nhận được khoản chi trả 51,5 triệu USD cho các kết quả giảm phát thải đã được xác minh (“tín chỉ carbon”) do hạn chế được mất rừng và suy thoái rừng (REDD ), tăng cường lưu trữ carbon thông qua trồng và tái tạo rừng. Khoản chi trả này đã được chuyển cho Việt Nam do giảm được 10,3 triệu tấn phát thải carbon cho giai đoạn từ ngày 1/2/2018 đến ngày 31/12/2019. Theo Ngân hàng Thế giới, đây là khoản chi trả đơn lẻ lớn nhất từng có từ Quỹ FCPF cho các kết quả giảm phát thải đã được xác minh và chất lượng cao. Khoản tiền này sẽ mang lại lợi ích cho 70.555 chủ rừng và 1.356 cộng đồng sống gần rừng, được chia theo kế hoạch chia sẻ lợi ích rộng rãi được xây dựng qua quá trình tham vấn minh bạch với nhiều bên tham gia. Việt Nam đã thu được kết quả giảm phát thải vượt quá khối lượng đã ký hợp đồng với Quỹ FCPF và có thể bán khối lượng giảm phát thải vượt trội này cho bên thứ ba thông qua các hiệp định song phương hoặc thị trường carbon. Việt Nam cũng có thể sử dụng các kết quả giảm phát thải vượt trội này cho Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) hoặc giữ lại cho các mục tiêu về khí hậu. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, thành công của chương trình REDD đưa Việt Nam đến gần hơn với việc thực hiện các đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam theo Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu, đồng thời bảo vệ các khu vực quan trọng cho bảo tồn đa dạng sinh học. Còn Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam Carolyn Turk, cho biết khoản chi trả mang tính bước ngoặt này đánh dấu một bước nữa để Việt Nam tham gia thị trường tín chỉ carbon toàn cầu và mở ra một cơ hội mới để tài trợ cho các cam kết và mục tiêu khí hậu đầy tham vọng của quốc gia. Chương trình này đã tạo ra 16,2 triệu kết quả giảm phát thải đã được xác minh cho giai đoạn 2018- 2019, cao hơn 5,9 triệu so với khối lượng 10,3 triệu trong Thỏa thuận chi trả giảm phát thải. Ngân hàng Thế giới đã thông báo cho Việt Nam việc thực hiện quyền mua thêm 1 triệu kết quả giảm phát thải bên ngoài số lượng hợp đồng. Chương trình giảm phát thải của Việt Nam bảo vệ các khu rừng nhiệt đới của đất nước, bao phủ 3,1 triệu trong số 5,1 triệu ha đất trong khu vực thực hiện chương trình. Quỹ Đối tác Carbon Lâm nghiệp (FCPF) là quỹ hợp tác toàn cầu hỗ trợ các chính phủ, doanh nghiệp, tổ chức xã hội dân sự và các tổ chức của người bản địa tập trung vào việc giảm phát thải do mất rừng và suy thoái rừng, bảo tồn trữ lượng carbon rừng, quản lý rừng bền vững và tăng cường trữ lượng carbon rừng ở các nước đang phát triển, các hoạt động thường được gọi là REDD . Từ khi được thành lập năm 2008, Quỹ FCPF đã làm việc với 47 quốc gia đang phát triển tại Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ La-tinh và Ca-ri-bê, cùng với 17 nhà tài trợ đã đóng góp và cam kết với tổng trị giá 1,3 tỷ USD. Nguồn:https://vneconomy.vn/viet-nam-nhan-51-5-trieu-usd-tu-wb-cho-giam-phat-thai-carbon.htm














