Hội nghị Bộ trưởng Môi trường Việt Nam – Hàn Quốc lần thứ 17 chính thức diễn ra, dưới sự đồng chủ trì của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng và Bộ trưởng Bộ Khí hậu, Năng lượng và Môi trường Hàn Quốc Kim Sungwhan. Ảnh: Khuương Trung. Hội nghị Bộ trưởng Môi trường Việt Nam – Hàn Quốc lần thứ 17 thống nhất 6 lĩnh vực hợp tác trọng tâm gồm: biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên nước, công nghiệp xanh, đa dạng sinh học và xây dựng kế hoạch hợp tác giai đoạn 2026-2030. Ngày 21/4, trong khuôn khổ Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung và phu nhân Kim Hae Kyung cùng đoàn đại biểu cấp cao đến thăm Việt Nam, tại trụ sở Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Hội nghị Bộ trưởng Môi trường Việt Nam – Hàn Quốc lần thứ 17 chính thức diễn ra, dưới sự đồng chủ trì của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng và Bộ trưởng Bộ Khí hậu, Năng lượng và Môi trường Hàn Quốc Kim Sungwhan, với sự tham dự của đoàn công tác cấp cao hai nước. Đề xuất thí điểm quản lý nước thông minh bằng AI Phát biểu khai mạc, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng bày tỏ trân trọng trước sự hỗ trợ của Chính phủ Hàn Quốc trong nâng cao năng lực quản lý môi trường tại Việt Nam. Ông cho biết hội nghị là dịp để hai bên nhìn lại kết quả hợp tác, đồng thời thống nhất định hướng mới theo hướng “thực chất hơn, hiệu quả hơn và mang lại lợi ích cụ thể cho doanh nghiệp và người dân hai nước”. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trịnh Việt Hùng phát biểu tại Hội nghị Bộ trưởng Môi trường Việt Nam – Hàn Quốc lần thứ 17. Ảnh: Khương Trung. Tại hội nghị, hai bên đã nghe báo cáo tóm tắt kết quả hợp tác môi trường kể từ sau kỳ họp lần thứ 16, đồng thời tập trung trao đổi sâu về 6 lĩnh vực trọng tâm. Về biến đổi khí hậu, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng đề nghị Hàn Quốc tiếp tục hỗ trợ Việt Nam xây dựng và vận hành thị trường carbon, triển khai các dự án theo Điều 6 Thỏa thuận Paris, phát triển hệ thống kiểm kê khí nhà kính đạt chuẩn quốc tế, đồng thời hiện đại hóa hệ thống dự báo khí tượng thủy văn. Ông cũng đề xuất thúc đẩy phân loại rác tại nguồn, phát triển công nghệ tái chế, điện rác, triển khai các mô hình công nghệ tốt nhất hiện có (BAT) và chính sách mở rộng trách nhiệm nhà sản xuất (EPR). Trong lĩnh vực tài nguyên nước, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh nhu cầu tăng cường hợp tác theo hướng quản lý tổng hợp, ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI), xây dựng hệ thống dữ liệu hỗ trợ ra quyết định. Việt Nam cũng mong muốn triển khai các dự án phục hồi sông, nâng cao an ninh nguồn nước, đồng thời sớm thí điểm mô hình quản lý nước thông minh tại một số lưu vực sông trọng điểm, trước mắt là hệ thống sông Hồng – Thái Bình, tận dụng các công nghệ AI tiên tiến của Hàn Quốc trong cảnh báo sớm thiên tai. Bộ trưởng Bộ Khí hậu, Năng lượng và Môi trường Hàn Quốc Kim Sungwhan phát biểu tại Hội nghị Bộ trưởng Môi trường Việt Nam – Hàn Quốc lần thứ 17. Ảnh: Khương Trung. Ở lĩnh vực công nghiệp xanh, Việt Nam đề xuất hợp tác phát triển khu công nghiệp tuần hoàn, tăng cường liên kết giữa sản xuất và bảo vệ môi trường, đồng thời thu hút đầu tư từ doanh nghiệp Hàn Quốc vào công nghệ môi trường và sản xuất xanh. Đối với đa dạng sinh học, Việt Nam định hướng tăng cường nghiên cứu, đào tạo và phát triển các giải pháp bảo tồn bền vững. Để cụ thể hóa các nội dung hợp tác, Bộ trưởng Trịnh Việt Hùng đề nghị hai bên xây dựng kế hoạch hợp tác giai đoạn 2026-2030, thiết lập cơ chế điều phối, giám sát triển khai; đồng thời tăng cường đối thoại các cấp, thúc đẩy hợp tác công – tư và huy động nguồn lực từ KOICA, GGGI. Hàn Quốc chia sẻ công nghệ AI, Digital Twins để quản lý ngập lụt Phát biểu tại hội nghị, Bộ trưởng Kim Sungwhan bày tỏ ủng hộ mạnh mẽ việc thí điểm và vận hành thị trường các-bon tại Việt Nam, đồng thời khuyến nghị giảm dần phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, chuyển sang năng lượng tái tạo. Lễ ký kết Bản ghi nhớ giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường Việt Nam và Bộ Khí hậu, Năng lượng và Môi trường Hàn Quốc. Ảnh: Khuương Trung. Trong lĩnh vực môi trường, ông cho biết Hàn Quốc sẵn sàng hỗ trợ, chuyển giao công nghệ thu gom, phân loại và tái chế chất thải, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng nguyên liệu chịu tác động từ bất ổn toàn cầu. Đối với quản lý tài nguyên nước, hai nước cùng chú trọng các giải pháp quản lý ngập lụt thông minh. Hàn Quốc đã giới thiệu công nghệ Digital Twins kết hợp AI, cùng hệ thống cảm biến và camera giám sát (CCTV) nhằm xây dựng hệ thống cảnh báo sớm và hỗ trợ ra quyết định theo thời gian thực. Theo Bộ trưởng Kim Sungwhan, hợp tác công nghiệp xanh sẽ được thúc đẩy thông qua các dự án thí điểm và chương trình cụ thể. Về đa dạng sinh học, mỗi quốc gia cần có chính sách phù hợp, đồng thời tăng cường hợp tác xuyên biên giới để bảo
VIỆT NAM THU HÀNG NGÀN TỈ ĐỒNG TỪ BÁN TÍN CHỈ CARBON
Tính đến cuối tháng 11.2023, Việt Nam đã thu về 51,5 triệu USD tương ứng 1.200 tỉ đồng từ việc chuyển nhượng 10,3 triệu tấn CO2td cho Ngân hàng Thế giới (WB). 1. BỎ TÚI NGÀN TỈ TỪ RỪNG SẠCH, GẠO XANH Mới đây, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) Quảng Bình nhận 82,4 tỉ đồng từ việc bán tín chỉ carbon của 469.317 ha rừng. Trong đó, 80 tỉ đồng sẽ chi trả cho chủ rừng bao gồm hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng, tổ chức và UBND xã; 2,4 tỉ đồng được trích vào Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng. Theo tính toán, trong giai đoạn từ năm 2023 – 2025, phần diện tích rừng nói trên sẽ tạo ra được 2,4 triệu tín chỉ (1 tín chỉ bằng 1 tấn CO2tđ), đồng nghĩa với giảm lượng phát thải khí nhà kính tương đương 2,4 triệu tấn carbon. Tổng số tiền bán tín chỉ carbon thu về trong 3 năm có lên đến 235 tỉ USD. Các chủ rừng sẽ được chia số tiền này theo tỷ lệ tương ứng với diện tích rừng đang chăm sóc và bảo vệ. Trường hợp bán tín chỉ carbon lấy tiền như tỉnh Quảng Bình không phải là cá biệt. Bộ NN-PTNT cho biết, có đến 6 tỉnh tham gia Thỏa thuận chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung bộ (ERPA) với đại diện là Bộ NN-PTNT và WB giai đoạn 2018 – 2024. Theo thỏa thuận trên, trong năm 2023, VN đã chuyển nhượng 10,3 triệu tấn CO2tđ cho WB với tổng số tiền nhận về là 51,5 triệu USD, tương ứng 1.200 tỉ đồng. Bên cạnh đó, Bộ NN-PTNT còn ký “Ý định thư về mua bán giảm phát thải” với Tổ chức Tăng cường tài chính lâm nghiệp (Emergent) cho 11 tỉnh vùng Tây nguyên và Nam Trung bộ. VN sẽ chuyển nhượng cho Emergent khoảng 5,15 triệu tấn CO2tđ với giá tối thiểu là 10 USD/tấn (tương đương 51,5 triệu USD) cho giai đoạn 2022 – 2026. Theo ông Nguyễn Quốc Trị, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT, việc chuyển nhượng, thương mại tín chỉ carbon rừng sẽ bổ sung nguồn tài chính để tái đầu tư vào rừng. Bên cạnh đó, việc này tạo việc làm, tăng thu nhập, cải thiện sinh kế cho các chủ rừng, bảo vệ đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường”. Việc bán tín chỉ carbon cũng đang được triển khai trong lĩnh vực nông nghiệp. Dự án quy mô nhất là đề án “Một triệu hecta lúa chất lượng cao, phát thải thấp”. Trước khi đề án này được triển khai, các mô hình thử nghiệm đã cho các kết quả đáng khích lệ. Cụ thể, nhờ áp dụng các kỹ thuật canh tác mới như giảm lượng lúa giống, giảm phân bón thuốc trừ sâu và kỹ thuật tưới nước ướt – khô xen kẽ thì 1 ha lúa có thể giảm đến 5 tấn CO2tđ. Hiện tại, việc sản xuất lúa bền vững với môi trường đã được một số doanh nghiệp VN triển khai thực hiện. Ông Trần Thanh Nam, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT thông tin: WB đã cam kết mua theo nghĩa vụ các tín chỉ carbon từ đề án sản xuất lúa này với giá khoảng 10 USD tấn CO2tđ. “Đây là phần giá trị tăng thêm cho hạt gạo VN khi đề án được triển khai. Không chỉ thế, việc này có nghĩa to lớn hơn là nâng giá trị hạt gạo của VN lên một tầm mức mới là “xanh bền vững” và góp phần vào lộ trình đưa phát thải ròng của VN về bằng 0 vào năm 2050 như cam kết của Chính phủ VN trước cộng đồng quốc tế. All Posts Blog Cây giống tre khổng lồ Dược liệu Núi Cấm Netzero Back Gừng gió Núi Cấm Back Tre khổng lồ Núi Cấm Tre Tầm Vông đá Núi Cấm Tín chỉ carbon là gì? 24/03/2026-Blog Tín chỉ carbon (carbon credit) là chứng nhận quyền phát thải khí CO2 hoặc khí nhà kính khác quy đổi sang CO2. Trong đó, bên bán là bên có khả năng giảm hoặc tăng hấp… Đọc thêm 2.DOANH NGHIỆP HỒ HỞI TRƯỚC CƠ HỘI MỚI Ông Đào Xuân Thủy, Giám đốc Vườn Quốc gia Chư Mom Ray (Kon Tum) thừa nhận bị hấp dẫn bởi đề án tín chỉ carbon. Với hơn 600.000 ha rừng, nếu bán tín chỉ carbon thì tỉnh có thể sẽ thu về khoảng 3.000 tỉ đồng mỗi năm, đây là nguồn kinh phí rất lớn bổ sung vào việc giữ rừng, bảo vệ rừng. Nhận thấy tiềm năng của lĩnh vực này, hiện nhiều doanh nghiệp cũng tham gia. Đơn cử, Công ty CP EcoTree đã hợp tác với các đối tác châu Âu thực hiện phát triển dự án trồng rừng bền vững bằng việc khảo sát điều tra thực địa, lập dự án đầu tư trồng mới, cải tạo chăm sóc; lập hồ sơ xét duyệt tín chỉ carbon… Ông Lê Thanh Tùng, Chủ tịch HĐQT Công ty CP EcoTree cho biết đã làm việc với 11 tỉnh, thành để thí điểm đề án tín chỉ carbon và nhận được sự ủng hộ của Cà Mau, Bình Định, Tây Ninh, Đồng Nai, Gia Lai… “Với sự đầu tư từ công ty, các Ban quản lý (BQL) rừng sẽ phát triển rừng bền vững theo tiêu chuẩn quốc tế. Công ty sẽ xây dựng thí điểm trên 1/3 diện tích rừng hiện có của Kon Tum, tương đương diện tích 100.000 – 150.000 ha (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng). Ở những khu rừng đặc dụng, lượng hấp thụ từ 25 – 30 tấn carbon/ha/năm” – ông Tùng nói Các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp cũng không muốn chậm chân. Mới đây, Công ty Net Zero Carbon của VN, một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tư vấn giảm
Phế thải cây tre thành than sinh học, mở lối mới cho tín chỉ carbon
Công ty Bamboo King Vina ở xã Linh Sơn, Thanh Hóa đang biến phế phụ phẩm từ cây tre thành than sinh học biochar, tạo hướng đi mới để xử lý chất thải lâm nghiệp, phát triển nông nghiệp bền vững và khai thác thị trường tín chỉ carbon. Mỗi ngày, Bamboo King Vina (BKV) tại cụm công nghiệp Bãi Bùi chế biến khoảng 1.500 tấn tre và gỗ, đồng thời phát sinh 800-900 tấn cành, lá, rễ, vụn tre và mùn cưa. Trước đây, lượng phế thải này chủ yếu bị đốt bỏ hoặc để mục ngoài trời, gây phát thải khí CO2, CH4 và bụi ra môi trường. Từ giữa năm ngoái, BKV khởi động dự án “Than sinh học Bamboo King Vina”, đầu tư sáu dây chuyền nhiệt phân công nghệ cao. Công nghệ này đốt sinh khối trong môi trường yếm khí ở nhiệt độ 600-800 độ C, giữ carbon lại trong sản phẩm than sinh học. Khí sinh ra từ quá trình đốt được tận dụng để vận hành lò, giảm phát thải ra không khí. Dự án được đăng ký theo tiêu chuẩn chứng nhận carbon VCS (Verified Carbon Standard) của tổ chức Verra của Mỹ, mã số 5108, với chu kỳ tín chỉ từ tháng 6-2024 đến tháng 5-2031. Công suất thiết kế của công ty hiện đạt 47.520 tấn biochar/năm. Theo tính toán, mỗi năm nhà máy sẽ giảm và loại bỏ khoảng 112.000 tấn CO2e, tương đương gần 784.000 tấn trong 7 năm đầu, lượng giảm phát thải này sẽ được kiểm định quốc tế và quy đổi thành tín chỉ carbon (VCUs) thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Đây được xem là tín chỉ loại bỏ carbon (carbon removal) vốn đang có giá chào bán 100-300 đô la/tín chỉ. Biochar thu được từ phế thải tre sẽ được bón trực tiếp vào đất hoặc sử dụng gián tiếp thông qua chăn nuôi, ủ phân, xử lý bùn. Loại vật liệu giàu carbon này giúp cải thiện độ tơi xốp và khả năng giữ nước của đất, giảm nhu cầu phân bón hóa học và hạn chế phát thải nitrous oxide (tức N₂O, phát sinh chủ yếu từ quá trình sử dụng phân bón đạm và phân hữu cơ khi nitơ trong đất bị chuyển hóa) – một loại khí gây hiệu ứng nhà kính mạnh gấp hàng trăm lần CO2. Đồng thời, lượng carbon trong biochar có thể lưu giữ trong đất hàng trăm năm, biến đất canh tác thành một “bể chứa carbon” tự nhiên. Ngoài ý nghĩa về môi trường, dự án còn mang lại lợi ích kinh tế cho nông dân khi phế thải tre được tận dụng, trong khi than sinh học biochar quay lại đồng ruộng, giúp tăng năng suất cây trồng và giảm chi phí sản xuất. Ông Đỗ Quốc Thái, Chủ tịch HĐQT Bamboo King Vina cho biết hiện tại công ty muốn mở rộng quy mô lên 15 nhà máy trên khắp cả nước bằng các hình thức thu hút đầu tư, cung cấp thiết bị sản xuất than biochar, tư vấn quy trình đăng ký tín chỉ carbon. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổng diện tích trồng tre cả nước hiện nay gần 1,6 triệu héc ta, phân bố nhiều tỉnh, thành trong nước. Thanh Hóa là địa phương có diện tích tre, luồng lớn của Việt Nam, hàng năm cung cấp hàng chục triệu cây tre, luồng cho thị trường. Nguồn:https://carboncredits.thesaigontimes.vn/phe-thai-cay-tre-thanh-than-sinh-hoc-mo-loi-moi-cho-tin-chi-carbon/
Cây “nồi đồng cối đá tắm nắng gội mưa” này trồng theo chuỗi giá trị, sẽ nhắm tới thị trường carbon ở tỉnh Đắk Lắk
Toàn cảnh Hội thảo “Thực trạng, tiềm năng và định hướng phát triển cây Tre gắn với chuỗi giá trị tại tỉnh Đắk Lắk”. Tỉnh Đắk Lắk được đánh giá có nhiều lợi thế để trồng tre thành ngành hàng xanh, vừa tạo sinh kế cho người dân vừa góp phần bảo vệ rừng và thích ứng biến đổi khí hậu. Nếu được quy hoạch bài bản theo chuỗi giá trị và gắn với thị trường tín chỉ carbon, cây tre được kỳ vọng sẽ mở ra hướng làm giàu mới ngay từ chính những cánh rừng tự nhiên của địa phương. Trồng tre ở tỉnh Đắk Lắk có tiềm năng lớn, nhưng “điểm nghẽn” vẫn nằm ở vùng nguyên liệu và chế biến sâu Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk, tre được đánh giá là loài cây sinh thái, thân thiện môi trường, có khả năng tái tạo nhanh và có thể thay thế nhiều vật liệu như nhựa, gỗ trong xây dựng và sản xuất hàng tiêu dùng. Việt Nam hiện có khoảng 216 loài tre thuộc 30 chi, trong đó nhiều loài có giá trị kinh tế cao. Trên thế giới, ngành công nghiệp tre hiện đạt tổng giá trị khoảng 70 tỷ USD, với kim ngạch xuất khẩu khoảng 6,5 tỷ USD, tập trung chủ yếu tại châu Á. Thị trường nhập khẩu chính là châu Âu, Mỹ và Nhật Bản. Đây được xem là dư địa lớn để Việt Nam nói chung và Đắk Lắk nói riêng phát triển tre theo hướng chế biến sâu, hướng đến xuất khẩu. Phát triển vùng nguyên liệu tập trung là hướng đi bền vững cho cây tre Đắk Lắk. Đây là lợi thế để tổ chức phát triển vùng nguyên liệu tre, nhất là tại các khu vực có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời, am hiểu địa hình, có thể tham gia quản lý và khai thác rừng bền vững. Dù có tiềm năng lớn, thực tế diện tích tre tại Đắk Lắk hiện mới khoảng 3.500 ha, trong đó chỉ khoảng 50 ha được trồng từ giống mới có năng suất, chất lượng cao, còn lại chủ yếu là tre rừng tự nhiên. Đáng chú ý, tỉnh Đắk Lắk hiện chưa có nhà máy chế biến chuyên sâu, hiện đại để phát triển các sản phẩm kỹ nghệ cao và hướng đến xuất khẩu. Đây được xem là “điểm nghẽn” khiến giá trị gia tăng của tre chưa được khai thác tương xứng. Đóng góp ý kiến tại hội thảo, ông Phan Văn Thắng, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Lâm sản ngoài gỗ, cho rằng cần có một nghị quyết chuyên đề phục vụ phát triển ngành tre. Theo ông Thắng, chính quyền đóng vai trò kiến tạo môi trường để kết nối doanh nghiệp với người sản xuất tre, đồng thời hỗ trợ người dân đào tạo nghề và phát triển sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, hướng đến kinh tế xanh và tăng thu nhập bền vững. Tỉnh Đắk Lắk trồng tre nhắm thị trường carbon, kỳ vọng mở hướng làm giàu bền vững Tại hội thảo, nhiều tham luận và ý kiến thảo luận tập trung vào định hướng phát triển cây tre theo chuỗi giá trị, ứng dụng khoa học kỹ thuật và xây dựng thương hiệu “tre Đắk Lắk”. Các giải pháp được đề xuất nhấn mạnh việc quy hoạch vùng nguyên liệu tre theo từng nhóm sản phẩm: tre lấy măng, tre phục vụ thủ công mỹ nghệ, tre cho công nghiệp giấy, tre cho xây dựng và nội thất… Bên cạnh đó, một hướng đi quan trọng được đánh giá là phát triển tre gắn với chứng chỉ rừng bền vững, tín chỉ carbon và thị trường quốc tế. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành giá trị thực tế, địa phương cần sớm quy hoạch vùng nguyên liệu bài bản, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp – hợp tác xã – nông dân, đẩy mạnh chế biến sâu và đặc biệt chú trọng xây dựng thương hiệu tre Đắk Lắk gắn với chứng chỉ rừng bền vững, thị trường carbon và định hướng xuất khẩu. Ông Đinh Văn Đang, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đắk Lắk, phát biểu tại hội thảo tiềm năng và định hướng phát triển cây tre. Phát biểu tại hội thảo, bà Đặng Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk nhấn mạnh, đây là bước khởi đầu quan trọng giúp địa phương nhìn nhận rõ tiềm năng, đồng thời xác định những “điểm nghẽn” cần tháo gỡ để từng bước xây dựng chuỗi giá trị cây tre theo hướng bền vững. “Việc phát triển cây tre không chỉ gắn với mục tiêu nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn mà còn góp phần bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu; đặc biệt, thị trường tín chỉ carbon được xem là cơ hội mới để Đắk Lắk hình thành mô hình kinh tế xanh từ cây tre trong thời gian tới”, bà Đặng Thị Thủy khẳng định. Theo bà Đặng Thị Thủy, với lợi thế về tài nguyên rừng, nguồn lao động và điều kiện tự nhiên, cây tre được kỳ vọng sẽ trở thành một ngành hàng xanh mới của Đắk Lắk, góp phần tạo việc làm và nâng cao đời sống người dân. Nguồn:https://danviet.vn/cay-noi-dong-coi-da-tam-nang-goi-mua-nay-trong-theo-chuoi-gia-tri-se-nham-toi-thi-truong-carbon-o-tinh-dak-lak-d1400949.html
Hàng không Việt có thể phải chi nửa tỷ USD mua tín chỉ carbon 10 năm tới
Trong 10 năm tới khi tham gia cơ chế giảm phát thải toàn cầu, hàng không Việt Nam có thể phải chi tới gần 500 triệu USD để mua tín chỉ carbon. Tại cuộc họp kỹ thuật về CORSIA do Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tổ chức ngày 27/3, các chuyên gia cho biết Việt Nam đã đăng ký tham gia giai đoạn tự nguyện đầu tiên của cơ chế này từ năm 2026. Đây được xem là bước đi cần thiết để ngành hàng không trong nước thích ứng với các tiêu chuẩn môi trường ngày càng chặt chẽ trên thế giới. Theo bà Đặng Hồng Hạnh, Trưởng nhóm chuyên gia thị trường carbon (PoA Carbon), tổng nhu cầu bù trừ phát thải của ngành hàng không Việt Nam giai đoạn 2026-2035 ước khoảng 10,7-15,4 triệu tín chỉ carbon. Với các kịch bản giá tín chỉ carbon từ vài chục đến gần 100 USD mỗi đơn vị, chi phí tuân thủ có thể lên tới 345-496 triệu USD. Đây được xem là một trong những khoản chi mới cao nhất mà ngành hàng không phải đối mặt trong thập kỷ tới. “Đây là áp lực tài chính rất lớn với các hãng hàng không trong giai đoạn phục hồi”, bà Hạnh nói. Chi phí gia tăng này nhiều khả năng sẽ được chuyển một phần sang người tiêu dùng. Theo bà Đặng Hồng Hạnh, giá vé máy bay có thể tăng thêm 0,7-2,2 USD mỗi hành khách trong giai đoạn đầu. Trong khi đó, bà Nguyễn Lê Khánh Linh, chuyên gia kỹ thuật (PoA Carbon), cho biết mức tăng có thể lên tới 5 USD mỗi vé ở các giai đoạn sau, tùy theo diễn biến thị trường carbon. Dù mức tăng không lớn trên mỗi vé, các chuyên gia cho rằng điều này có thể ảnh hưởng đến nhóm khách nhạy cảm về giá, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh du lịch khu vực ngày càng gay gắt. Với kế hoạch mở rộng mạng bay quốc tế, Vietnam Airlines ước tính cần khoảng 478.000 tín chỉ carbon năm nay. Số tín chỉ này sẽ tăng lên 1,5 triệu vào năm 2035 khi mạng đường bay quốc tế tăng gấp đôi hiện nay. Để đáp ứng yêu cầu, hãng lên phương án mua tín chỉ trên thị trường quốc tế, hoặc tự tạo tín chỉ bằng cách đầu tư trực tiếp vào các dự án giảm phát thải. Sân bay Nội Bài. Ảnh: Ngọc Thành CORSIA (Carbon Offsetting and Reduction Scheme for International Aviation) là cơ chế giảm nhẹ và bù trừ phát thải khí nhà kính với hàng không quốc tế do Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO) thiết lập, triển khai từ năm 2021. Chương trình yêu cầu các hãng hàng không bù trừ phần phát thải CO2 vượt mức cơ sở năm 2019 thông qua việc mua tín chỉ carbon trên thị trường quốc tế. CORSIA được triển khai theo nhiều giai đoạn, trong đó giai đoạn 2024-2026 mang tính tự nguyện và từ 2027 trở đi áp dụng bắt buộc với các quốc gia có hoạt động hàng không quốc tế, gồm Việt Nam. Cùng với mua tín chỉ carbon, các hãng bay cũng tính tới giải pháp kỹ thuật để giảm phát thải. Trong đó, sử dụng nhiên liệu hàng không bền vững (SAF) có thể giảm tới 80% lượng phát thải trong vòng đời nhiên liệu. Tuy nhiên, theo bà Đặng Hồng Hạnh, SAF hiện có giá cao gấp 3-4 lần nhiên liệu truyền thống và nguồn cung toàn cầu hạn chế, khiến việc triển khai trên diện rộng chưa khả thi. Do đó, trong những năm đầu, việc mua tín chỉ carbon vẫn là giải pháp chính để các hãng đáp ứng yêu cầu của CORSIA. Ngoài chi phí và công nghệ, khung pháp lý trong nước cũng được xem là điểm nghẽn lớn. Theo bà Hạnh, Việt Nam hiện chưa hoàn thiện đầy đủ quy định về chuyển giao tín chỉ carbon quốc tế, quy trình cấp thư chấp thuận (LoA) và cơ chế điều chỉnh tương ứng. Điều này khiến doanh nghiệp có rủi ro không được quốc tế công nhận tín chỉ, dẫn đến nguy cơ phải mua lại hoặc chịu chế tài. Nguồn: https://vnexpress.net/hang-khong-viet-co-the-phai-chi-nua-ty-usd-mua-tin-chi-carbon-10-nam-toi-5055536.html
Khí nhà kính là gì?
Đồ họa: Dỹ Tùng Khí nhà kính (Greenhouse Gases – GHG) là các loại khí tồn tại trong bầu khí quyển, có khả năng hấp thụ và phản xạ tia bức xạ nhiệt. Cụ thể, các loại khí nhà kính có khả năng hấp thụ các bức xạ sóng dài (bức xạ hồng ngoại) trong dải bước sóng của trái đất gây ra, được phản xạ từ bề mặt khi được chiếu sáng bằng ánh sáng mặt trời, rồi phân tán nhiệt lại trái đất. Khí nhà kính chủ yếu bao gồm hơi nước, CO2, CH4, N2O, O3 và các khí CFC. Nghị định thư Kyoto xác định 6 loại khí nhà kính (GHG) do các hoạt động của con người tạo ra gồm CO2, CH4, N2O2 và 3 loại khí Flo (hydrofluorocarbons, perfluorocarbons và sulphur hexafluoride). Nguyên nhân thay đổi nồng độ khí nhà kính Hàng triệu đến hàng nghìn năm trước, nồng độ khí nhà kính thay đổi bởi hoạt động núi lửa, giải phóng CO2 và hơi nước. Cùng với đó, quá trình phong hóa đá tạo ra phản ứng hóa học làm giảm lượng CO2 trong khí quyển. Các thế kỷ gần đây, thay đổi nồng độ khí nhà kính do tan chảy của tầng băng vĩnh cửu vốn chứa lượng lớn metan (CH4). Khi chúng tan do nhiệt độ toàn cầu tăng, metan sẽ được giải phóng vào khí quyển. Nhiệt độ nóng hơn cũng đẩy nhanh quá trình phân hủy chất hữu cơ, gia tăng lượng khí nhà kính. Cùng với đó, nhiệt độ toàn cầu tăng dẫn đến tăng quá trình bốc hơi nước vào khí quyển. Biến đổi trong sinh khối và năng suất sinh học cũng ảnh hưởng đến chu trình carbon. Carbon tạo ra qua hô hấp, phân hủy chất hữu cơ và cháy rừng. Hiện nay, thay đổi nồng độ khí nhà kính chủ yếu đến từ hoạt động của con người, bao gồm: – Đốt nhiên liệu hóa thạch: thải CO2 và N2O – Hoạt động nông nghiệp: chăn nuôi gia súc (bò, cừu) và canh tác lúa tạo ra CH4. Phân bón chứa nitrate làm tăng nồng độ dinh dưỡng trong đất, giải phóng N2O. Sử dụng máy móc trong nông nghiệp cũng góp phần thải khí nhà kính. – Phá rừng và cháy rừng: đốt và phân hủy cây rừng thải ra CO2 và N2O. – Các quy trình công nghiệp: sản xuất xi măng từ đá vôi giàu carbon, rò rỉ khí tự nhiên và việc sử dụng hydrofluorocarbons (HFCs) trong làm lạnh và điều hòa không khí đều thải khí nhà kính vào khí quyển. Hiệu ứng nhà kính và nóng lên toàn cầu Khí nhà kính đóng vai trò quan trọng trong việc giữ ấm Trái Đất, tạo ra hiệu ứng nhà kính tự nhiên giúp duy trì sự sống. Nếu không có khí nhà kính, nhiệt độ trung bình của bề mặt Trái đất sẽ là khoảng -18 độ C. Tuy nhiên, khi nồng độ các khí nhà kính tăng cao do hoạt động của con người, hiệu ứng này trở nên quá mức, dẫn đến hiện tượng nóng lên toàn cầu và biến đổi khí hậu. Bảo tàng Cổ sinh vật học thuộc Đại học California (UCMP) cho biết, kể từ những năm 1960, các nhà khoa học đã đo nồng độ CO2 trong khí quyển ở nhiều địa điểm khác nhau. Từ đó đến nay, CO2 đã tăng từ khoảng 315 phần triệu lên hơn 420 phần triệu. Trong khi đó, qua kỹ thuật trích xuất không khí cổ đại bị mắc kẹt trong băng, các nhà khoa học cho biết nồng độ CO2 trong khí quyển cách đây 800.000 năm không bao giờ vượt quá 300 phần triệu. Mô tả hiệu ứng khí nhà khí. Ảnh: The Teacher Friendly GuideTM to Climate Change, Dỹ Tùng dịch Cùng với CO2, CH4 và các khí HFC hấp thụ và bức xạ lại nhiệt, ngày càng làm ấm tầng khí quyển. Vì vậy, dù chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong khí quyển, những thay đổi nhỏ về nồng độ của chúng có thể làm thay đổi đáng kể cường độ của hiệu ứng nhà kính, từ đó ảnh hưởng đến nhiệt độ trung bình của trái đất. Với đà phát thải khí nhà kính tăng, nồng độ khí nhà kính đậm đặc hơn dẫn đến hiện tượng nóng lên toàn cầu, làm thay đổi mô hình thời tiết và gây ra các hiện tượng cực đoan như bão lụt và hạn hán. Ngoài ra, nhiệt độ tăng cũng khiến băng tan ở hai cực, khiến nước biển dâng. Theo NASA, nếu nhiệt độ tăng lên 2 độ C, mực nước biển sẽ dâng cao 20cm ở hơn 70% bờ biển của Trái Đất, dẫn đến lũ lụt ven biển gia tăng, xói mòn, nhiễm mặn và các tác động khác đến con người và hệ sinh thái. Khi hệ sinh thái bị biến đổi, mất cân bằng sinh thái sẽ làm gia tăng nguy cơ tuyệt chủng đối với nhiều loài sinh vật, ảnh hưởng đến đa dạng sinh học. Ngay với con người, nhiệt độ tăng cao cùng với ô nhiễm không khí làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh về đường hô hấp và các bệnh truyền nhiễm. Cách kéo giảm hiệu ứng nhà kính Vào năm 1995 tại Berlin (Đức), Hội nghị các Bên tham gia Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu (COP) lần đầu được tổ chức và về sau diễn ra hàng năm. Đến nay, COP đã diễn ra 28 kỳ. Tại COP26, Hội nghị đưa ra mục tiêu giữ nhiệt độ trái đất không tăng quá 1,5 độ C. Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc, nếu thế giới đạt được Net Zero vào giữa thế kỷ, tăng nhiệt độ toàn cầu có thể được kiềm chế ở mức khoảng 1,5 độ C. Hàng loạt quốc gia hứa hành
Thị trường carbon và các loại tài sản carbon
Thị trường carbon là nơi trao đổi quyền phát thải khí nhà kính, tức là nơi mua bán tín chỉ hoặc hạn ngạch carbon. Trên thị trường carbon, các doanh nghiệp, tổ chức mua quyền phát thải carbon nếu cần bù đắp lượng phát thải để đạt mục tiêu giảm phát thải tự nguyện hoặc bắt buộc. Ngược lại, bên bán là phía thừa quyền phát thải được cấp hoặc có khả năng tạo ra các quyền phát thải thông qua tín chỉ carbon. Hai loại tài sản carbon chính Có 2 loại tài sản chính được giao dịch trên thị trường carbon là tín chỉ carbon và hạn ngạch phát thải khí nhà kính. Cụ thể, tín chỉ carbon được tạo ra từ việc giảm phát thải khí nhà kính đã được chứng nhận, với một tín chỉ tương đương một tấn CO2 đã được tránh (không phát thải) hoặc hấp thụ với mức tham chiếu. Trong khi đó, hạn ngạch phát thải được cơ quản quản lý nhà nước phát hành bắt buộc cho các nhóm doanh nghiệp nằm trong danh sách cần quản lý phát thải khí nhà kính. Hạn ngạch là lượng khí nhà kính họ được quyền phát thải trong một chu kỳ. Nếu không phát thải hết hạn ngạch thì doanh nghiệp có thể bán. Ngược lại, đơn vị thiếu phải mua thêm hạn ngạch từ doanh nghiệp thừa để bù vào. All Posts Blog Cây giống tre khổng lồ Dược liệu Núi Cấm Netzero Back Gừng gió Núi Cấm Back Tre khổng lồ Núi Cấm Tre Tầm Vông đá Núi Cấm Tín chỉ carbon là gì? 24/03/2026-Blog Tín chỉ carbon (carbon credit) là chứng nhận quyền phát thải khí CO2 hoặc khí nhà kính khác quy đổi sang CO2. Trong đó, bên bán là bên có khả năng giảm hoặc tăng hấp… Đọc thêm Tín chỉ carbon khác gì hạn ngạch phát thải? Đồ họa: Dỹ Tùng Hai loại thị trường carbon chính Tương ứng với hai tài sản carbon này là hai loại thị trường carbon, bao gồm thị trường tự nguyện và bắt buộc. Thị trường tự nguyện (Voluntary Carbon Market – VCM) là nơi các tổ chức, công ty hoặc quốc gia thỏa thuận song phương hoặc qua một sàn giao dịch để mua bán tín chỉ carbon. Người mua tín chỉ nhằm đáp ứng các chính sách về môi trường, giảm dấu chân carbon theo mục tiêu Net Zero mà họ tự công bố. Thị trường bắt buộc (Compliance Carbon Market – CCM) là nơi giao dịch các hạn ngạch phát thải khí nhà kính và một số tín chỉ carbon để giúp doanh nghiệp đạt tuân thủ nghĩa vụ giảm phát thải khí nhà kính của mình theo quy định pháp luật. Thị trường này thường là Hệ thống giao dịch hạn ngạch phát thải (ETS), do chính phủ hoặc cơ quan quản lý thiết lập và vận hành. Toàn cầu đang có khoảng 48 quốc đã thành lập thị trường bắt buộc. Ví dụ điển hình là Hệ thống Mua bán phát thải Liên minh châu Âu (EU ETS). Sở dĩ thị trường bắt buộc có tín chỉ carbon được giao dịch bởi một số chính phủ cho phép doanh nghiệp bù trừ – thông thường tối đa 10% – hạn ngạch còn thiếu bằng tín chỉ carbon. Do đó, sàn ETS vẫn có vài loại tín chỉ carbon được nhà quản lý chấp thuận cho giao dịch với mục đích bù trừ. Đồ họa: Dỹ Tùng Lý do thị trường carbon quan trọng Năm 2021, Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) công bố báo cáo về tiến độ làm chậm biến đổi khí hậu của thế giới. Tin xấu là lượng khí nhà kính (GHG) vẫn đang tăng ở tất cả ngành chính trên toàn cầu, dù chậm hơn. Còn tin tốt là năng lượng tái tạo bắt đầu rẻ dần. Bất chấp một số tiến bộ, thế giới vẫn đối mặt thách thức to lớn. Các nhà khoa học cảnh báo rằng mức tăng nhiệt độ toàn cầu sẽ vượt quá 2 độ C trong thế kỷ 21, trừ khi đạt được những giảm thiểu sâu về lượng phát thải GHG ngay bây giờ. Hành động hiệu quả đòi hỏi phải có sự đầu tư phối hợp và đủ mức, vì chi phí không hành động sẽ còn cao hơn nhiều. Theo Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), các quốc gia đang phát triển cần tới 6.000 tỷ USD vào năm 2030 để tài trợ cho gần một nửa mục tiêu hành động về khí hậu theo các Đóng góp do Quốc gia Tự quyết định (NDC) của họ. Báo cáo mới nhất của IPCC cho thấy tất cả các nước đều chưa đạt yêu cầu, với nguồn tài chính thấp hơn ba đến sáu lần so với mức cần thiết vào 2030 và sự chênh lệch còn rõ rệt hơn ở một số khu vực trên thế giới. Thị trường carbon được quốc tế xem như một phần của giải pháp để thúc đẩy và tài trợ cho quá trình chuyển đổi cần thiết. Thị trường carbon tại Việt Nam ra sao? Việt Nam đã có cơ sở pháp lý cho việc hình thành thị trường carbon. Luật Bảo vệ Môi trường 2020 đưa ra khung pháp lý cơ bản cho việc hình thành thị trường carbon nội địa thông qua Điều 139. Sau đó, Nghị định 06 năm 2022 của Chính phủ có Điều 91 và 139 về giảm phát thải khí nhà kính và hình thành – phát triển thị trường carbon. Cùng năm đó, Thủ tướng ra Quyết định 01 về danh sách đối tượng tham gia thị trường carbon. Tương tự quốc tế, Đề án thị trường carbon của Chính phủ dự kiến Việt Nam có thị trường carbon bắt buộc và tự nguyện, với hai 2 hàng hóa là hạn ngạch phát thải
Tín chỉ carbon là gì?
Tín chỉ carbon (carbon credit) là chứng nhận quyền phát thải khí CO2 hoặc khí nhà kính khác quy đổi sang CO2. Trong đó, bên bán là bên có khả năng giảm hoặc tăng hấp thụ carbon so với mức tham chiếu. Mỗi tín chỉ carbon tương ứng với một tấn khí CO2 hoặc lượng khí nhà kính quy đổi tương đương sang CO2 đã được ngăn chặn hoặc loại bỏ, đơn vị là CO2tđ trong tiếng Việt, hoặc CO2eq trong tiếng Anh. Lưu ý, để tính được tín chỉ carbon thì cần có mức tham chiếu. Đây là lượng phát thải khí nhà kính ước tính sẽ xảy ra nếu không có hoạt động giảm phát thải hoặc hấp thụ carbon nào được thực hiện, tức “kịch bản thông thường”. Ví dụ, mức tham chiếu của một dự án trồng rừng có thể là lượng CO2 sẽ được thải ra nếu khu đất đó không được trồng rừng mà vẫn tiếp tục bị chặt phá hoặc sử dụng cho các mục đích khác gây ra phát thải. Lượng CO2 mà cây cối mới trồng có thể hấp thụ so với kịch bản này sẽ được coi là lượng tăng hấp thụ carbon so với mức tham chiếu. Phần tăng này được bao nhiêu tấn thì quy đổi ra bao nhiêu tín chỉ carbon. All Posts Blog Cây giống tre khổng lồ Dược liệu Núi Cấm Netzero Back Gừng gió Núi Cấm Back Tre khổng lồ Núi Cấm Tre Tầm Vông đá Núi Cấm Khí nhà kính là gì? 26/03/2026-Netzero Đồ họa: Dỹ Tùng Khí nhà kính (Greenhouse Gases – GHG) là các loại khí tồn tại trong bầu khí quyển, có khả năng hấp thụ và phản xạ tia bức xạ nhiệt. Cụ thể, các… Đọc thêm Đồ họa: Dỹ Tùng Vì sao có tín chỉ carbon? Tín chỉ carbon bắt nguồn từ Nghị định thư Kyoto (Kyoto Protocol) năm 1997, một hiệp định quốc tế nhằm kiểm soát và giảm thiểu sự phát thải khí nhà kính trên toàn cầu. Theo đó, các quốc gia tham gia cam kết sẽ giảm lượng phát thải khí nhà kính, đồng thời được phép trao đổi quyền phát thải carbon với nhau trên thị trường quốc tế thông qua tín chỉ carbon. Từ đó, thị trường carbon toàn cầu, nơi các công ty hoặc quốc gia phát thải nhiều hơn mức quy định có thể mua tín chỉ từ các tổ chức, dự án hoặc quốc gia có lượng phát thải thấp hơn hoặc hấp thụ carbon như một trong các cách thức để đạt được các mục tiêu giảm phát thải. Ngoài ra, để cùng chung tay chống biến đổi khí hậu, ngày càng nhiều công ty tuyên bố về mục tiêu mức phát thải ròng bằng không, tức Net Zero. Theo Net Zero Tracker, một cơ sở dữ liệu do các học giả và tổ chức phi lợi nhuận biên soạn, hơn một phần ba trong số 2.000 công ty đại chúng lớn nhất thế giới đã tự công bố mục tiêu phát thải ròng bằng không của riêng mình. Các mục tiêu này thường bao gồm các cam kết công khai nhằm giảm lượng khí nhà kính bằng cách sửa đổi quy trình, cải tiến sản phẩm, chuyển đổi nhiên liệu, dùng năng lượng tái tạo, đầu tư vào các dự án loại bỏ carbon. Tuy nhiên, một số ngành đặc thù không thể hoàn toàn loại bỏ được hoàn toàn phát thải. Khi ấy, doanh nghiệp cần mua tín chỉ carbon để bù trừ phần cam kết giảm phát thải còn thiếu. Ý nghĩa của tín chỉ carbon Tín chỉ carbon ra đời nhằm khuyến khích các doanh nghiệp và tổ chức giảm lượng phát thải khí nhà kính bằng cách đầu tư vào các công nghệ và dự án xanh. Điều này giúp giảm bớt tác động của biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Việc trao đổi và mua bán tín chỉ carbon còn tạo ra một thị trường mới, thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp xanh như năng lượng tái tạo, trồng rừng, và các dự án tiết kiệm năng lượng. Điều này không chỉ giúp giảm phát thải mà còn tạo ra cơ hội kinh tế mới. Ở nhiều quốc gia, các doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định về lượng phát thải khí nhà kính. Tín chỉ carbon giúp các doanh nghiệp này đáp ứng các yêu cầu pháp lý, tránh được các khoản phạt và tăng cường hình ảnh thương hiệu xanh. Ngoài ra, tín chỉ carbon thúc đẩy tính minh bạch trong việc đo lường và báo cáo lượng phát thải khí nhà kính, từ đó giúp cộng đồng và chính phủ có cái nhìn rõ ràng hơn về những nỗ lực chống biến đổi khí hậu. All Posts Blog Cây giống tre khổng lồ Dược liệu Núi Cấm Netzero Back Gừng gió Núi Cấm Back Tre khổng lồ Núi Cấm Tre Tầm Vông đá Núi Cấm Làm thế nào để được cấp Tín Chỉ Carbon? 24/03/2026-Netzero Tín chỉ carbon có thể được cấp bởi cơ chế của Liên Hợp Quốc, cơ chế các quốc gia – khu vực hoặc các tiêu tiêu chuẩn carbon độc lập. Ai cấp tín chỉ carbon?… Đọc thêm All Tre khổng lồ Cây giống trà Cây Giống Giâm Cành Dendrocalamus Asper “Đá” Núi Cấm 395.000 ₫ – 16.500.000 ₫Price range: 395.000 ₫ through 16.500.000 ₫ Tre Khổng Lồ Núi Cấm được người dân trồng và khai thác từ năm 1973, Chính vì vậy cây giống tre khổng lồ được chiết… Tìm hiểu thêm Liên hệ với Viet Star Bamboo Hotline: 0986 340 077 – 0984 810 101 Email:Info@vietstarbamboo.com Địa chỉ:Lô 05, đường lên Núi Cấm, Ấp Thiên Tuế, Xã Núi Cấm, Tỉnh An Giang, Việt Nam. Facebook-f Facebook Youtube Tiktok
Làm thế nào để được cấp Tín Chỉ Carbon?
Tín chỉ carbon có thể được cấp bởi cơ chế của Liên Hợp Quốc, cơ chế các quốc gia – khu vực hoặc các tiêu tiêu chuẩn carbon độc lập. Ai cấp tín chỉ carbon? Tín chỉ carbon được chứng nhận bởi nhiều tổ chức và cơ chế khác nhau, bao gồm các tiêu chuẩn carbon độc lập, cơ chế tín chỉ quốc tế, và cơ chế tín chỉ quốc gia và địa phương. Cụ thể: Thứ nhất, tiêu chuẩn carbon độc lập là những tổ chức phi lợi nhuận hoặc tổ chức quốc tế thiết lập các tiêu chuẩn để đảm bảo các dự án giảm phát thải carbon tuân thủ những nguyên tắc nhất định. Họ phát hành tín chỉ carbon chủ yếu được sử dụng cho các mục đích tự nguyện, chẳng hạn như tuyên bố về trung hòa carbon của doanh nghiệp. 2 tiêu chuẩn về tín chỉ Carbon Hai tiêu chuẩn phổ biến nhất là: Gold Standard và Verra (VCS – Verified Carbon Standard) Trong đó, Verra cung cấp khuôn khổ để các dự án giảm phát thải được kiểm tra, đo lường và xác minh một cách độc lập. Họ cho phép một loạt các loại dự án, từ năng lượng tái tạo đến bảo tồn rừng, nhận tín chỉ carbon. Gold Standard đặt ra các tiêu chí nghiêm ngặt để đảm bảo các dự án không chỉ giảm phát thải mà còn đem lại lợi ích môi trường và xã hội bổ sung. Tín chỉ carbon từ Gold Standard thường được dùng bởi các doanh nghiệp và tổ chức để bù đắp phát thải. Nguồn:Victor Escalona, South Pole, VNEEC Thứ hai, cơ chế tín chỉ quốc tế được quản lý bởi Liên Hợp Quốc (UNFCCC) nhằm hỗ trợ các quốc gia đạt được các cam kết về giảm phát thải khí nhà kính trong các hiệp ước quốc tế. Cơ chế này trước đây tuân theo Nghị định thư Kyoto và nay theo Thỏa thuận Paris. Các cơ chế này được tạo ra như một công cụ giúp các quốc gia đáp ứng các cam kết trong các hiệp ước quốc tế (tức là tuân thủ), nhưng một số tín chỉ cũng đã được sử dụng cho các mục đích tự nguyện. Thứ ba là cơ chế tín chỉ quốc gia và địa phương, được thiết lập và cho phép sử dụng tín chỉ carbon để tuân thủ các quy định về phát thải tại nơi đó. Hầu hết các cơ chế này đã có ở Bắc Mỹ và Đông Á, thường tập trung hoàn toàn vào thị trường nội địa về vị trí dự án lẫn người mua. Những tín chỉ này được sử dụng theo các chương trình tự nguyện hoặc bắt buộc nơi đó, tùy quy định địa phương. Làm gì để được cấp tín chỉ carbon? Để được cấp tín chỉ carbon, tổ chức hoặc doanh nghiệp cơ bản cần thực hiện các dự án giảm phát thải và đăng ký xin cấp chứng nhận tín chỉ carbon. Có khoảng 170 loại dự án có thể được cấp tín chỉ carbon thuộc các nhóm ngành như: rừng và quản lý đất đai, năng lượng, nông nghiệp, giao thông, công nghiệp, xử lý chất thải. Phổ biến là các dự án như trồng rừng, năng lượng tái tạo (như điện gió, điện mặt trời), thu giữ và lưu trữ carbon (CCS). Quá trình phát triển trải qua 5 bước cơ bản từ lên ý tưởng, phân tích khả thi, thu xếp tài chính, thực hiện và hoạt động. Để được cấp tín chỉ carbon, dự án cần đăng ký với các tổ chức định xin công nhận. Quá trình này cơ bản có 5 bước. Ban đầu, họ hợp đồng với một bên thứ ba để thẩm định (thường kéo dài 3-6 tháng). Sau đó, đăng ký dự án theo tiêu chuẩn đã chọn với thời gian trung bình mất 3 tháng. Tiếp theo, tiến hành báo cáo mức giảm phát thải theo phương pháp và kế hoạch giám sát đã lựa chọn với tần suất thông thường mỗi năm một lần, tùy thuộc vào chất lượng và tính sẵn có của dữ liệu. Trước khi đăng ký xin cấp chứng chỉ, bên triển khai dự án cần hợp đồng với một bên thứ ba được phê duyệt để thực hiện thẩm tra, mất khoảng 2 – 6 tháng. Sau khi hoàn tất, mất thêm khoảng 3 tháng để yêu cầu ban hành tín chỉ. Sau khi được cấp tín chỉ carbon, các tổ chức và doanh nghiệp có thể bán hoặc trao đổi tín chỉ carbon trên các thị trường như EU Emissions Trading System (EU ETS), các sàn giao dịch tín chỉ carbon khác trên thế giới hoặc trong các khuôn khổ tùy theo cơ chế tín chỉ carbon được cấp. Nguồn:https://vnexpress.net/cach-nao-de-duoc-cap-tin-chi-carbon-4797397.html All cây giống giâm cành Dendrocalamus Asper “Đá” Núi Cấm 395.000 ₫ – 16.500.000 ₫Khoảng giá: từ 395.000 ₫ đến 16.500.000 ₫ Tre Khổng Lồ Núi Cấm được người dân trồng và khai thác từ năm 1973, Chính vì vậy cây giống tre khổng lồ được chiết… Tìm hiểu thêm Liên hệ với Viet Star Bamboo Hotline: 0986 340 077 – 0984 810 101 Email:Info@vietstarbamboo.com Địa chỉ:Lô 05, đường lên Núi Cấm, Ấp Thiên Tuế, Xã Núi Cấm, Tỉnh An Giang, Việt Nam. Facebook-f Facebook Youtube Tiktok
Hiện trạng các sàn giao dịch tín chỉ carbon
Chỉ số tương lai phát thải carbon giao dịch trên thị trường. Việt Nam được coi là nước có tiềm năng lớn về nguồn cung ứng tín chỉ carbon. Riêng ngành nông nghiệp có thể đạt 57 triệu tín chỉ carbon mỗi năm, tương đương 57 triệu tấn CO2 được hấp thụ. Việc mua bán tín chỉ giảm phát thải trên thị trường là phương pháp tiên tiến được ngày càng nhiều quốc gia triển khai, đã tạo ra thị trường carbon trên thế giới và ở Việt Nam. Sôi động thị trường carbon thế giới Thị trường carbon khởi động từ năm 1997, với việc thông qua Nghị định thư Kyoto của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu. Theo Nghị định thư này, các quốc gia phát triển có nghĩa vụ giảm phát thải khí nhà kính, bằng cách giảm phát thải trực tiếp, hoặc mua lại các chứng chỉ giảm phát thải từ các quốc gia khác. Từ đó, trên thế giới xuất hiện loại hàng hóa mới là các chứng chỉ giảm/hấp thụ phát thải khí nhà kính. Hàng hoá giao dịch được gọi chung là mua bán, trao đổi carbon, hình thành nên thị trường carbon hay thị trường tín chỉ carbon. Hiện nay, trên thế giới có 58 quốc gia phát triển thị trường carbon, 27 quốc gia áp dụng thuế carbon và một số quốc gia áp dụng cả hai. Các quốc gia này xây dựng sàn giao dịch tín chỉ carbon và đã có nhiều giao dịch, nguồn thu về rất lớn, tạo xu hướng cho các nước chưa tham gia thị trường carbon. Đầu tiên, phải kể đến thị trường châu Âu với sàn giao dịch EU Emissions Trading System (EU ETS): Giúp các nước thành viên EU hạn chế hoặc giảm thiểu lượng khí thải nhà kính bằng việc cho phép người tham gia mua hoặc bán hạn ngạch khí thải. Hạn ngạch khí thải được xem như là một dạng tiền tệ – một hạn ngạch được cấp cho cho người có quyền thải ra một tấn CO2 hoặc khí thải nhà kính khác. Từ tháng 10/2023, 27 nước thành viên EU đã bắt đầu đánh thuế carbon với sáu loại hàng hóa nhập khẩu từ bên ngoài có nguy cơ ô nhiễm cao là sắt thép, xi măng, phân bón, nhôm, điện và hydro. Đây là những lĩnh vực chiếm tới 94% lượng khí thải công nghiệp của EU. Các nhà nhập khẩu sẽ phải báo cáo lượng khí thải có trong hàng hóa nhập khẩu, nếu lượng khí thải này vượt quá tiêu chuẩn của EU thì sẽ phải mua “tín chỉ carbon” theo mức giá carbon hiện nay tại EU. Sàn giao dịch California Cap-and-Trade Program: Đây là một sàn giao dịch tại tiểu bang California, Hoa Kỳ, và là một phần của Western Climate Initiative, bao gồm cả các tỉnh của Canada. Sàn Japan Carbon Credit Trading Scheme (J-Credits): Sàn giao dịch tín chỉ carbon “J-credits” khai trương ngày 11/10/2023 trên sàn chứng khoán Tokyo (TSE). Ban đầu có 188 công ty và tổ chức Nhật Bản tham gia mua bán tín chỉ carbon được Chính phủ xác thực thông qua việc sử dụng năng lượng tái tạo và quản lý rừng. Sàn China National Emissions Trading Scheme: Trung Quốc đã bắt đầu thử nghiệm hệ thống giao dịch tín chỉ carbon quốc gia của mình vào năm 2021, với kế hoạch mở rộng quy mô trong tương lai. Ngoài ra, còn có sàn Kazakhstan Emissions Trading Scheme: Kazakhstan đã thành lập hệ thống giao dịch khí thải quốc gia của mình vào năm 2013. Sàn New Zealand Emissions Trading Scheme: Đây là hệ thống giao dịch tín chỉ carbon quốc gia của New Zealand, bắt đầu hoạt động từ năm 2008. Tại nhiều nước Đông Nam Á cũng có sàn giao dịch carbon như sàn giao dịch chứng khoán Singapore (SGX) thành lập tháng 5/2021, quỹ đầu tư Temasek thuộc Chính phủ Singapore, ngân hàng DBS và Standard Chartered đã công bố thành lập thị trường carbon tự nguyện CIX bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho việc buôn bán tín chỉ carbon chất lượng cao (từ các khu rừng lâu năm, có tác động tích cực đến chất lượng không khí) thông qua các hợp đồng tiêu chuẩn hóa. Trong ngày đầu tiên CIX khai trương, đã có 12.000 tấn CO2 được mua/bán với giá trung bình 5,36 USD mỗi tấn. Năm 2022, hãng hàng không Singapore Airlines (SIA) đã thử nghiệm chương trình cấp chứng chỉ carbon bằng cách sử dụng nhiên liệu hàng không bền vững (sản xuất từ dầu ăn đã qua sử dụng, có lượng khí phát thải thấp). Lượng khí thải sẽ được chia nhỏ ra, và các doanh nghiệp bay với SIA sẽ được cấp chứng nhận về nỗ lực giảm phát thải để có thể công bố với nhà đầu tư. Sàn giao dịch tín chỉ carbon (BCX) thuộc sàn giao dịch chứng khoán Malaysia (Bursa Malaysia) khai trương năm 2022. Sàn giao dịch chứng khoán Indonesia (IDX) cũng ra mắt sàn giao dịch tín chỉ carbon năm 2023 trong bối cảnh Indonesia là quốc gia phụ thuộc vào than đá đang nỗ lực tìm cách huy động các nguồn lực để giảm khí phát thải. Thị trường tín chỉ carbon Việt Nam Từ thực tế nhiều nước thành lập sàn giao dịch tín chỉ carbon, Bộ Tài chính đề xuất thực hiện mô hình này tại Việt Nam. Đề án nhằm phát triển thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính với chi phí của doanh nghiệp và xã hội thấp, thúc đẩy phát triển công nghệ phát thải thấp, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, hướng tới phát triển nền kinh tế carbon thấp và chủ động ứng phó với biến















