Giá trị sản xuất trên 1 ha đất nông nghiệp bình quân cả nước còn chênh lệch lớn giữa các vùng, dao động từ 80-200 triệu đồng/ha/năm, cho thấy dư địa nâng cao hiệu quả còn rất lớn. Ảnh: Trường Giang.
Nâng hiệu quả sử dụng
Hơn một thập kỷ qua, bức tranh sử dụng đất của Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý. Đất nông nghiệp không những không thu hẹp, mà còn tăng từ 26,23 triệu ha năm 2011 lên hơn 28,15 triệu ha vào năm 2024, tiếp tục chiếm tới gần 85% diện tích tự nhiên. Trong đó, đất trồng lúa duy trì khoảng 3,5 triệu ha, cơ bản bảo đảm mục tiêu an ninh lương thực quốc gia.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, diện tích đất chưa sử dụng đã giảm mạnh từ 3,16 triệu ha (2011) xuống còn chưa đầy 1 triệu ha (2024), đồng nghĩa với việc hơn 2,2 triệu ha đất đã được đưa vào khai thác.
Trong nội bộ đất nông nghiệp cũng có sự chuyển đổi. Giai đoạn 2021-2024, nhiều địa phương đã chuyển đổi hàng trăm nghìn hecta đất trồng lúa kém hiệu quả sang cây trồng khác hoặc nuôi trồng thủy sản, giúp tăng giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích từ 1,2-1,5 lần so với trước.
Nhiều vùng sản xuất tập trung, chuyên canh quy mô lớn đã hình thành; tỷ lệ cơ giới hóa trong sản xuất lúa ở một số vùng trọng điểm đạt trên 90% khâu làm đất và thu hoạch.
Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng đất vẫn chưa đồng đều. Giá trị sản xuất trên 1 ha đất nông nghiệp bình quân cả nước còn chênh lệch lớn giữa các vùng, dao động từ 80-200 triệu đồng/ha/năm, cho thấy dư địa nâng cao hiệu quả còn rất lớn.
Tổ chức lại cách khai thác nguồn lực đất đai
Theo thống kê, năm 2024, diện tích đất chưa sử dụng của cả nước còn 954,95 nghìn ha, chiếm 2,88% diện tích đất tự nhiên. Đây là nguồn dự trữ quan trọng, nhưng không dễ khai thác. Đa số diện tích đất chưa sử dụng phân bố phân tán ở khu vực miền núi hoặc ở vùng khó khăn, có địa hình cao, hiểm trở, độ dốc lớn, độ dày tầng đất mỏng; một số diện tích ở khu vực ven biển nhiễm phèn, nhiễm mặn… nên mức độ khai thác, cải tạo rất hạn chế. Muốn khai thác hiệu quả đòi hỏi chi phí đầu tư lớn về hạ tầng, công nghệ.
Thực tế, tiềm năng đất chưa sử dụng để mở rộng cho sản xuất nông nghiệp là hạn chế, chủ yếu là tiềm năng để phát triển lâm nghiệp nhằm nâng cao tỷ lệ che phủ, góp phần bảo vệ đất và môi trường sinh thái; một phần nhỏ đáp ứng cho các mục đích phi nông nghiệp.
Bởi vậy, việc nâng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp nằm ở chính phần đất đang có những sử dụng kém hiệu quả. Thực tế cũng cho thấy, khi được tổ chức lại, đất đai có thể nhanh chóng trở thành nguồn lực lớn.
Tại Đồng Tháp Mười khu vực tỉnh Long An (cũ) vốn là một vùng “bưng sậy hoang” trước đây, đất phèn nặng, ngập nước, gần như không thể canh tác. Nhưng với việc đầu tư thủy lợi và chính sách khai hoang, sau hơn 30 năm, khu vực này đã trở thành một trong những vựa lúa lớn của cả nước, đóng góp hàng triệu tấn lương thực mỗi năm.
Hay hàng trăm hecta ruộng nước ở xã vùng cao Phước Năng (huyện Phước Sơn, Quảng Nam cũ, nay là TP Đà Nẵng mới) từ chỗ bị bỏ hoang nay trở thành cánh đồng màu mỡ, với những vụ mùa bội thu. Cách làm của Phước Năng là người dân cải tạo ruộng, chính quyền cho máy móc xuống giúp dân cày bừa, rồi cấp giống lúa, cấp phân cho bà con gieo trồng. Cán bộ xã xuống tận ruộng chỉ cách bà con cấy lúa, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh để sản xuất lúa hữu cơ. Sau hơn 5 năm, nhờ khai hoang, cải tạo, cánh đồng lúa rộng hơn 120ha nay đã cho sản xuất 2 vụ, với năng suất cao không thua kém đồng bằng
Hiện thực hóa bằng thể chế, chính sách
Thực tế hiện nay cho thấy, điểm nghẽn lớn nhất không phải thiếu đất, mà là đất bị chia nhỏ, khó tích tụ; cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp tích tụ ruộng đất chưa linh hoạt; quy hoạch vùng sản xuất chưa rõ ràng; thiếu liên kết với doanh nghiệp…

Nhiều nơi, doanh nghiệp muốn đầu tư nhưng không thể gom đủ quỹ đất. Ngược lại, người dân có đất nhưng không đủ điều kiện sản xuất hiệu quả. Kết quả là đất bị bỏ hoang hoặc sử dụng kém hiệu quả. Đây là một dạng lãng phí nguồn lực rất rõ ràng.
Nghị quyết 18-NQ/TW đã đặt ra yêu cầu rõ ràng, phải có chính sách phù hợp để khai thác hiệu quả đất nông nghiệp, phát huy tối đa giá trị nguồn lực đất đai. Các chủ trương về tích tụ, tập trung đất đai, dồn điền đổi thửa, phát triển vùng nguyên liệu, thu hút doanh nghiệp vào nông nghiệp đã được triển khai.
Trong bối cảnh Luật Đất đai tiếp tục được sửa đổi, bổ sung, kỳ vọng việc thể chế hóa các nghị quyết mới của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, sẽ tạo xung lực mạnh mẽ để thúc đẩy ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào khai hoang, phục hóa. Qua đó, không chỉ đánh thức tiềm năng của những vùng đất còn bỏ ngỏ mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ đất nông nghiệp, quỹ đất chưa sử dụng, góp phần tạo nền tảng vững chắc cho phát triển nông nghiệp hiện đại, bền vững trong giai đoạn tới.
Nhưng để biến các chính sách thành những vùng đất trù phú, cần cơ chế bảo đảm quyền lợi cho người dân khi góp đất; sự quyết liệt của chính quyền địa phương; liên kết sản xuất – tiêu thụ bền vững hơn…
Khi từng thửa ruộng được kết nối thành vùng sản xuất lớn, khi đất đai được vận hành như một nguồn lực kinh tế đúng nghĩa, “dư địa” sẽ không còn là tiềm năng trên giấy, mà trở thành động lực phát triển rõ ràng của nông nghiệp trong giai đoạn mới.
Ông Lê Văn Bình, Phó Cục trưởng Cục Quản lý đất đai cho biết, Luật Đất đai 2024 đã có các quy định cụ thể về mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của cá nhân; mở rộng đối tượng được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp cho tổ chức kinh tế, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp được nhận chuyển nhượng đất trồng lúa trong hạn mức được giao đất nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân có năng lực về vốn, khoa học kỹ thuật có quyền tiếp cận đất đai, đầu tư sản xuất nông nghiệp hàng hóa; hạn chế tình trạng bỏ hoang hoặc sử dụng đất nông nghiệp manh mún không hiệu quả; đồng thời có các quy định cụ thể về tập trung đất nông nghiệp, tích tụ đất nông nghiệp để tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất nông nghiệp mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp






