Tuyến đường thu phí Semarang-Demak số 1 được xây dựng trên mặt nước biển hoặc thường được gọi là ‘Đường thu phí trên biển’. Tuyến đường thu phí này có chức năng kép là tuyến đường kết nối cho hoạt động huy động kinh tế và cũng đóng vai trò là bờ kè chắn sóng để khắc phục tình trạng ngập lụt do thủy triều trên bờ biển Semarang và Demak. All Posts Blog Các loại tre Chăm sóc tre Kỹ thuật Lợi ích Tín chỉ carbon Tin tức Ở Việt Nam Loại Rừng Nào Bán Tín… Tiềm Năng Từ Tín Chỉ Carbon Rừng Rừng trồng dưới 5 năm tuổi tạo ra… Tre mang lại những lợi ích gì cho… Tre là loài cây phát triển nhanh nhất trên hành tinh. Người ta đã… https://youtu.be/TAFPYB_lKwo?si=j5UFi6n05Lct2iQ3 Ứng dụng tre vào làm đường cao tốc tại Indonesia Đặc biệt, đoạn đường thu phí Semarang-Demak I hiện đang được xây dựng, được làm bằng kết cấu cơ bản làm bằng vật liệu tre hay còn gọi là nệm tre. Số lượng tre dùng làm nền móng cho việc xây dựng đường thu phí lên tới 10 triệu thân. Công nhân xây dựng đang sắp xếp phần đế nệm tre từ hàng triệu thân cây để tạo thành kết cấu nền của tòa nhà đường thu phí. Thảo luận về tính độc đáo này, Giám đốc Dự án phát triển đường thu phí Semarang-Demak IA Adhi Setyawan cho biết thiết kế kết cấu cơ bản của Đường thu phí Semarang-Demak Đoạn I được thực hiện bằng hàng triệu cây tre để tạo độ bền kết cấu nhưng vẫn có độ đàn hồi để hỗ trợ chống mài mòn. “Tre được sử dụng làm cấu trúc cơ bản để cung cấp sức mạnh cho kết cấu đường thu phí, bao gồm độ đàn hồi hữu ích để giảm rung động từ tải trọng thu phí và có thể hỗ trợ từ bên dưới. Vì vậy, tre có kết cấu xây dựng chắc chắn và an toàn khỏi bị mài mòn”, Adhi giải thích, Thứ Ba (19/11). Ông Adhi giải thích rằng việc bố trí tre ở chân Đường thu phí Semarang Demak, Đoạn I, được thiết kế đủ chắc chắn để chịu được tải trọng vận hành của đường thu phí và đặc biệt là không dễ bị rung do mài mòn. Chức năng của nệm tre là để đường thu phí có độ bền kết cấu nhưng vẫn có tính đàn hồi, chẳng hạn như ở phía dưới có phần đế chắc chắn và cứng cáp để có thể chịu được sự tấn công của sóng mài mòn. “Cơ quan quản lý đường thu phí (BPJT) đã thử nghiệm công nghệ này để đo độ bền của kết cấu nệm tre dùng trong xây dựng. Vì vậy, vật liệu tre có thể là nguyên liệu thô để làm Đường thu phí Semarang-Demak vì nó bền và đàn hồi khi xây dựng. Tất nhiên, các chuyên gia xây dựng cũng đã nghiên cứu công nghệ này để có thể ứng dụng phù hợp với nhu cầu phát triển”, Adhi giải thích. Tuyến đường thu phí Semarang Demak đoạn I dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2027. Chỉ khi đó, tuyến đường thu phí mới có thể hoạt động bình thường. Trong kế hoạch xây dựng, Đường thu phí Semarang-Demak Đoạn I sẽ được trang bị một khu vực nghỉ ngơi nằm ngay phía trên bờ biển. Ý tưởng này mang đến những quang cảnh tuyệt đẹp mà người tham gia giao thông có thể chiêm ngưỡng. Tuyến đường thu phí Semarang-Demak I dài 10,6 km trải dài qua biển, chia thành khu vực Sayung, Demak và một phần khác đi vào Kaligawe, thành phố Semarang .
Ở Việt Nam Loại Rừng Nào Bán Tín Chỉ Carbon Được Giá Nhất
Tiềm Năng Từ Tín Chỉ Carbon Rừng Rừng trồng dưới 5 năm tuổi tạo ra tín chỉ carbon được giá gấp nhiều lần so với rừng tự nhiên, theo các chuyên gia. Việt Nam có tiềm năng về thị trường tín chỉ carbon rừng với lượng giao dịch 57 triệu tín chỉ mỗi năm, giá tùy cung – cầu ở từng thời điểm. Tín chỉ carbon (carbon credit) là một loại giấy phép hoặc chứng chỉ có thể giao dịch, có giá trị mua bán và cung cấp cho người nắm giữ tín chỉ quyền phát thải một tấn CO2 hoặc loại khí thải khác nằm trong danh sách khí thải nhà kính. Theo các chuyên gia, chất lượng tín chỉ carbon từ rừng phụ thuộc vào tuổi cây, cách chăm sóc cũng như cải tạo đất. Ví dụ, tín chỉ từ rừng dưới 5 năm tuổi hoặc trồng mới, phục hồi rừng (ARR) có chất lượng cao, giá vượt trội hơn so với rừng tự nhiên do khả năng hấp thụ carbon cao. Ông Trần Quang Minh, Tổng giám đốc Công ty cổ phần thương mại và đầu tư tín chỉ carbon Việt Nam (Carbon Credits Vietnam), nói tín chỉ ARR đang được nhiều công ty công nghệ nước ngoài hỏi mua tại Việt Nam. Giá mua trung bình 20 USD một tín chỉ, cao gấp nhiều lần sản phẩm từ rừng trồng trước đây đang dần xuống giá do dư cung trên thị trường tự nguyện quốc tế. Việt Nam có thể trở thành bể chứa carbon lớn của thế giới All Posts Tín chỉ carbon Bước nhảy vọt tỷ đô: Quốc gia châu… Quốc gia châu Á đó chính là Nhật Bản – Nền kinh tế lớn thứ… Sắp vận hành thí điểm thị trường carbon… Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà vừa ký quyết định phê duyệt Đề án Thành… Vì Sao Rừng Trồng Mới Có Giá Trị Cao Hơn? Với rừng trồng ở giai đoạn trước, ngoài chất lượng tín chỉ thấp, số lượng tạo ra do hạn chế mất rừng cũng ít hơn, dẫn tới lợi ích tài chính không cao. Năm ngoái, Ngân hàng Thế giới (World Bank) trả 51,5 triệu USD cho Việt Nam do hạn chế mất và suy thoái rừng (REDD+). Khoản tiền này chi cho 10,3 triệu tấn CO2 giảm thải trên 51,5 ha đất. Tức là, mỗi ha thu được 5 USD, tương đương 120.000 đồng trong gần hai năm. Để nhận được khoản hỗ trợ giảm thải này, cần nhiều công sức kiểm kê, báo cáo, xác lập tín chỉ. Với phần việc đo đếm phát thải, người bảo vệ rừng phải ghi nhật ký hàng ngày. Công việc này cần công nghệ hỗ trợ như điện toán đám mây, blockchain nhằm đảm bảo tính chính xác và minh bạch của dữ liệu. Nhưng PGS. TS Nguyễn Đình Thọ, Viện trưởng Viện Chính sách, Tài nguyên và Môi trường, cho rằng khoản chi trả này chỉ mang tính chất “động viên”. “Quá trình này đòi hỏi chi phí lớn trong khi lợi ích mang lại chưa tương xứng”, ông Thọ nói tại tọa đàm về cơ hội, thách thức của thị trường tín chỉ carbon ở Việt Nam vào tháng trước. Bởi lẽ, chi phí liên quan đến phát triển dự án trên do World Bank hỗ trợ. Nếu tự thuê các đơn vị tư vấn, kiểm kê, phí có thể tới 3 USD cho mỗi tín chỉ, trong khi giá bán của loại tín chỉ từ hạn chế mất rừng khá thấp, khoảng 1,2-1,6 USD. Chất lượng tín chỉ carbon phụ thuộc vào tuổi cây, cách chăm sóc và cải tạo đất. Những cánh rừng trồng mới có khả năng hấp thụ carbon tốt hơn, giúp tạo ra tín chỉ chất lượng cao. Một số công ty công nghệ nước ngoài đã bắt đầu mua tín chỉ từ rừng trồng mới tại Việt Nam với giá trung bình 20 USD/tín chỉ, cao hơn rất nhiều so với mức giá từ rừng tự nhiên. Rừng quốc gia Bù Gia Mập Lựa Chọn Cây Trồng Để Tối Ưu Hóa Giá Trị Tín Chỉ Với rừng trồng mới, chuyên gia gợi ý cần tính toán quy mô, loại cây, cách trồng nhằm đảm bảo bài toán tài chính khi bán tín chỉ. Ví dụ, về chọn cây trồng, một hợp đồng tín chỉ carbon trung bình 20 năm, đòi hỏi cây trồng có vòng đời dài tương ứng. Theo đó, các loài cây thu hoạch theo mùa vụ hoặc vòng đời ngắn 5 – 7 năm như keo, hồng… cần tránh. “Nông dân nên trồng xen canh với cây bản địa, khuyến khích trồng xen với loài gỗ quý như gù hương, lim”, ông Trần Quang Minh nói. Những cây này có khả năng hấp thụ carbon trung bình từ 10-18 tấn trên mỗi ha một năm, sẽ đem lại giá trị gỗ cuối cùng vào năm thứ 20, 30 hoặc hàng trăm năm sau. So sánh lợi ích kinh tế, trồng keo đến năm thứ 8 dự kiến thu về 50 triệu đồng mỗi ha. Còn một cây gù hương 20 năm tuổi có thể bán với giá vài chục triệu, thậm chí tới trăm triệu đồng. Tính trung bình, người trồng sẽ thu về khoảng 20 tỷ đồng mỗi ha tiền gỗ nếu chặt trắng sau khi kết thúc thời hạn bán tín chỉ. Thực tế, người trồng hiếm khi chặt trắng mà sẽ chặt tỉa một số cây. Số cây được giữ mang lại giá trị lớn hơn trong tương lai. Do đó, bên cạnh nguồn thu từ tín chỉ, phương thức trồng xen gù hương, lim còn bảo vệ giống gen quý ở Việt Nam, biến những khu rừng thành di sản dành cho con, cháu đời sau. Một cây gỗ quý trăm năm tuổi có để đổi được một chiếc xe sang hạng trung, tùy theo giá gỗ từng thời điểm.
Kỹ Thuật Trồng và Chăm Sóc Tre
Công Dụng Cây Tre Trước đây cây tre trồng dùng để chắn sóng, chống sụt lở bờ sông, bờ đê, làm nhà cửa, nông cụ, làm giấy, làm khí giới, sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, dụng cụ thể dục thể thao, nhạc cụ, bàn ghế, tủ giường chiếu từ thô sơ đến cao cấp, làm thuốc chữa bệnh, làm thực phẩm cho người. Đặc biệt ngày nay cây tre đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất vật liệu xây dựng như ván ép, bê tông nhẹ, ốp tường nền… thay thế gỗ và cốt thép. Tre trúc đã được người dân Việt Nam gây trồng từ lâu đời theo lối quảng canh, mục đích chủ yếu là khai thác thân cây tre một phần có kết hợp lấy măng. Những năm gần đây nước ta đã du nhập giống tre lấy măng chủ yếu từ Trung Quốc đem về trồng ở nhiều địa phương trong cả nước, theo hướng chuyên sản xuất măng. Ngày nay cây tre đóng vai trò quan trọng trong khí thải nhà kính, tre có thể hấp thụ lượng CO2 nhiều hơn tới năm lần so với cây thông. Trong khi mỗi loại cây đều có vai trò riêng trong hệ sinh thái, thì cây tre có tiềm năng cao trong việc chống lại một lượng lớn CO2 một cách hiệu quả. Ngoài ra, tre hấp thụ các chất ô nhiễm từ không khí, giúp cải thiện chất lượng không khí Tre Khổng Lồ Dendrocalamus Asper “Đá” – dòng tre bản địa đã gắn bó với vùng Núi Cấm – An Giang Đặc tính sinh học Cây tre Tre trúc là loài thực vật thuộc họ phụ Bambusoideae, họ Poaceae, lớp một lá mầm, là loài cây ưa sáng mọc nhanh. Trên thế giới người ta đã tìm gặp được 1250 loài, trong đó Châu Á chiếm 900 loài (72%) số còn lại ở Châu Phi, Nam Mỹ, không gặp loài nào có nguồn gốc tại Châu Âu và có rất ít loài bản địa ở Châu Úc. Việt Nam có 92 loài, phân bố từ miền núi, trung du đến đồng bằng trên cả hai miền nam bắc Việt Nam. Khác với cây thân gỗ, tre không có cấu tạo tượng tầng nên không có quy luật hình thành vòng năm, cây có một thân chính hình tròn, rỗng, suôn thẳng và hơi cong ở phần ngọn. Cây sinh sản bằng hai con đường hữu tính và vô tính, nhưng chủ yếu vẫn là sinh sản vô tính bằng thân ngầm hay thân khí sinh (gốc tre hay cành tre). Tre thường mọc thành bụi, mỗi bụi có nhiều thân khí sinh, các bụi tre xuất phát từ thân ngầm (Rhizomes). Các thân ngầm này lại xuất phát từ nách của thân ngầm cũ. Một khi măng nhú lên khỏi mặt đất với đường kính đạt kích thước của thân khí sinh và sau đó không tăng lên đáng kể, khi măng lớn lên, các mo rụng dần. Trên bề mặt của mo thường có nhiều lông tơ và tận cùng của mo có lá mo. Tiết diện ngang của măng thường có hình tròn, rỗng với vách mỏng hay dầy, khi măng nhú lên khỏi mặt đất có màu xanh và thường có lông tơ hay một lớp sáp bao bọc. Thông thường các đốt tre có hình vòng tròn, là nơi phát sinh cành và một vòng rễ ở bên dưới đặc trưng cho từng chi. Sự phân cành trên các đốt kế tiếp theo hướng đối xứng và so le nhau. Cành mang nhiều nhánh nhỏ theo một dạng thức đặc sắc cho từng chi. Thông thường các nhánh nhỏ có mang lá, lá hình lưỡi mác có kích thước thay đổi tùy theo loài. Phần lớn tre trúc mọc tự nhiên ở độ cao dưới 500m so với mặt nước biển, thích hợp ở vùng khí hậu nóng ẩm, có lượng mưa trung bình 1500mm-2500 mm/năm, nhiệt độ bình quân 21-270C, cây mọc thích hợp ở những đất có tầng canh tác dầy, nhiều mùn, ẩm, có thành phần cơ giới nhẹ và thoát nước tốt. Chọn Cây giống và nhân giống Các phương pháp nhân cây giống Khi sản xuất được mở rộng, nhu cầu về giống cũng tăng theo và phương pháp nhân giống cũng không ngừng cải tiến. Cây tre được nhân giống chủ yếu bằng phương pháp gieo hạt hoặc giâm cành. Cây tre có thể được trồng từ hạt. Hạt được thu nhận vào cuối vòng đời của cây tre và mỗi loài có mỗi chu kỳ khác nhau (3 – 120 năm). Cây tre sau khi ra hoa và kết hạt thì cây sẽ chết đi và phụ thuộc vào điều kiện địa lý, khí hậu hay thổ nhưỡng thì cây mới có thể ra hoa được. Cả 2 phương pháp nhân giống này là tương đối đơn giản, tiết kiệm và được thực hiện ở điều kiện vườn ươm. Tuy nhiên, phương pháp này có một số điểm hạn chế như hệ số nhân giống thấp, chất lượng cây giống kém vì các đoạn chồi thu nhận từ cây mẹ sẽ bị thoái hóa hoặc nhiễm virus sau vài thế hệ. Do đó, người dân luôn cần một số lượng lớn cây giống sạch bệnh để phục vụ sản xuất. Cây giống nuôi cấy mô được chứng minh là phương pháp hữu hiệu để nhân nhanh giống cây trồng với số lượng lớn trong thời gian ngắn và đồng nhất về kiểu gen. Sự thành công của phương pháp vi nhân giống phụ thuộc rất nhiều quy trình nhân giống với các giai đoạn nuôi cấy khác nhau (khử trùng mẫu cấy và tạo nguồn mẫu ban đầu; tái sinh chồi ; nhân nhanh chồi; ra rễ in vitro) và khả năng thuần hóa cây giống trong điều kiện vườn ươm. Trong điều
Tín chỉ carbon thu về 800 usd/ha. Việt Nam có thể trở thành bể chứa carbon lớn của thế giới
Việt Nam có thể trở thành bể chứa carbon lớn của thế giới Thị trường tín chỉ carbon tự nguyện đang bước vào giai đoạn chín muồi phát triển, với giá cao hơn nhiều lần mức trung bình 3-5 USD giao dịch hơn 20 năm qua. Thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam đã manh nha từ hơn 20 năm trước. Theo dữ liệu của World Bank, tính đến 2023, Việt Nam có trên 42 triệu tín chỉ được cấp bởi các tổ chức quốc tế Verra, Gold Standard hoặc theo cơ chế phát triển sạch (CDM, thành lập theo Nghị định thư Kyoto 1997). Các tín chỉ giao dịch chủ yếu thuộc lĩnh vực năng lượng tái tạo, biogas… . thu về gần chục triệu USD mỗi dự án. Hiện nay, các tín chỉ từ rừng trồng mới có giá trung bình 20 USD, trong khi công nghệ than sinh học đạt tới 150 USD. Quy đổi ra giá, mỗi tín chỉ carbon quanh 3-5 USD. “Việt Nam có thể tận dụng thế mạnh về nông – lâm nghiệp, trở thành bể chứa carbon lớn của thế giới”, ông Trần Quang Minh – Tổng giám đốc Công ty cổ phần thương mại và đầu tư tín chỉ carbon Việt Nam (Carbon Credits Vietnam) nói với VnExpress. Tín chỉ carbon (carbon credit) là một loại giấy phép hoặc chứng chỉ có thể giao dịch, có giá trị mua bán và cung cấp cho người nắm giữ tín chỉ quyền phát thải một tấn CO2 hoặc loại khí thải khác nằm trong danh sách khí thải nhà kính. Thị trường tín chỉ này đang bước vào giai đoạn chín muồi của sự phát triển, theo giới phân tích, nhờ chất lượng tín chỉ cao hơn trước và giá gấp nhiều lần mức cũ trong bối cảnh khung pháp lý dần hình thành và hướng tới Net Zero vào 2050. Ví dụ, các loại tín chỉ chất lượng cao từ rừng trồng mới được các công ty công nghệ nước ngoài hỏi mua nhiều, giá trung bình 20 USD mỗi tín chỉ. Mức này gấp 4 lần khoản World Bank chi trả cho mỗi tấn CO2 giảm thải do hạn chế được mất và suy thoái rừng (REDD+) hồi đầu năm ngoái, theo ông Trần Quang Minh. Nhiều doanh nghiệp đang đẩy mạnh tham gia thị trường. Carbon Credits Vietnam triển khai dự án 500 ha tại Phú Thọ, giúp người trồng rừng thu về 800 USD/ha. VinaCapital lập Quỹ VinaCarbon đầu tư vào lâm nghiệp bền vững, nông nghiệp phát thải thấp và xử lý chất thải. Tuy nhiên, phát triển dự án tín chỉ carbon yêu cầu quy trình phức tạp kéo dài 2-3 năm, với các điều kiện nghiêm ngặt như không chặt trắng rừng, dùng phân hữu cơ và trồng xen cây bản địa. Quy mô tối thiểu 20 ha được khuyến nghị để tối ưu lợi nhuận. Bước nhảy vọt tỷ đô: Quốc gia châu Á vừa đạt vị trí số 1 Sắp vận hành thí điểm thị trường carbon tại Việt Nam Khung pháp lý cho cơ chế giao dịch trên thị trường tín chỉ carbon Theo TS. Bùi Duy Tùng, ĐH RMIT, thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển với nhiều bước tiến về khung pháp lý, chính sách và lộ trình triển khai. Việt Nam đã tạo ra nền tảng pháp lý rõ ràng để phát triển thị trường tín chỉ carbon nhằm thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính. Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020 và Nghị định số 06/2022/NĐ-CP đặt nền móng cho các cơ chế giao dịch tín chỉ carbon. Theo lộ trình phát triển, từ năm 2022 đến 2027, Việt Nam tập trung vào việc xây dựng các quy định quản lý tín chỉ carbon và triển khai thí điểm cơ chế trao đổi tín chỉ carbon. Trong giai đoạn này, các cơ quan chức năng đã xây dựng quy chế vận hành sàn giao dịch tín chỉ carbon, dự kiến đi vào hoạt động thí điểm vào năm 2025. Đến năm 2028, sàn giao dịch này sẽ chính thức vận hành, mở rộng kết nối với các thị trường carbon trong khu vực và quốc tế. Trong năm 2024, một công ty tư vấn đã thực hiện giao dịch mua hơn 16 tấn CO₂ giảm phát thải từ một dự án lúa tại Tây Nguyên với mức giá 20 USD/tấn. Thỏa thuận ERPA Bắc Trung Bộ đã chuyển nhượng 10,3 triệu tấn carbon dioxide với đơn giá 5 USD/tấn. Bộ NN&PTNT đang tiếp tục đàm phán chuyển nhượng 5,15 triệu tấn tín chỉ carbon từ vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, với mức giá tối thiểu 10 USD/tấn, đạt tổng giá trị 51,5 triệu USD. Ngày 2/5/2024, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo tăng cường công tác quản lý tín chỉ carbon nhằm thực hiện đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC). Mặc dù đã có những bước tiến quan trọng, khung pháp lý cho thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Vì vậy, Chính phủ cần sớm ban hành các quy định chi tiết và hướng dẫn cụ thể để doanh nghiệp có cơ sở tham gia tích cực hơn, đồng thời đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả của thị trường. Cần 5,6 tỷ đô la đầu tư mỗi năm để đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 Mục tiêu phát ròng bằng 0 trên thế giới cần 5,6 tỷ đô la đầu tư mỗi năm. Tuy nhiên, mục tiêu này chưa đạt được. Năm 2024, đầu tư toàn cầu vào năng lượng carbon thấp đạt 2,1 nghìn tỷ USD, tăng 11% so với năm 2023 nhưng chỉ đạt 37% mức cần thiết để đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Trung Quốc
Sản xuất ván ép tre và các sản phẩm từ Tre
Bước nhảy vọt tỷ đô: Quốc gia châu Á vừa đạt vị trí số 1 thế giới, mục tiêu thế kỷ ngay trước mắt!
Quốc gia châu Á đó chính là Nhật Bản – Nền kinh tế lớn thứ 2 của châu lục. Báo cáo MSCI Carbon Markets mới nhất phát hành tháng 1/2025 của Công ty tài chính Mỹ MSCI cho biết, thị trường tín chỉ carbon toàn cầu vẫn ổn định ở mức 1,4 tỷ USD vào năm 2024. Tuy nhiên, thị trường này có thể bùng nổ lên tới 35 tỷ USD vào năm 2030. Đến năm 2050, con số này là 250 tỷ USD. Và Nhật Bản vừa là quốc gia dẫn đầu thị trường tín chỉ carbon thế giới khi nhu cầu toàn cầu về các giải pháp bền vững ngày càng tăng. Với các khoản đầu tư đáng kể – 70 tỷ USD dành cho tài chính khí hậu, các thỏa thuận song phương và các cách tiếp cận sáng tạo, nền kinh tế lớn thứ hai châu Á (là Nhật Bản – GDP đạt 4230,86 tỷ USD năm 2024) đang củng cố vị thế là quốc gia dẫn đầu trong quá trình phi carbon hóa. Từ việc xây dựng quan hệ đối tác quốc tế đến thúc đẩy các giải pháp dựa trên thiên nhiên, những nỗ lực này của Nhật Bản phù hợp với cam kết đạt được mức phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050, Carboncredits đánh giá trong một bài báo đăng ngày 20/1/2025. Hãy xem Nhật Bản đã, đang và sẽ làm gì để đạt được mục tiêu tham vọng nhưng hoàn toàn khả thi này như thế nào. Net Zero năm 2050: Mục tiêu thế kỷ với 70 tỷ USD Tại Hội nghị thượng đỉnh về khí hậu COP28, Thủ tướng Fumio Kishida tái khẳng định cam kết mạnh mẽ của Nhật Bản trong việc đạt được mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Trong bối cảnh thế giới đang phải đối mặt với những thách thức trong việc đạt được mục tiêu khí hậu 1,5 độ, Thủ tướng Kishida nhấn mạnh rằng các hành động thực hiện cho đến năm 2030 có vai trò quan trọng trong việc định hướng tương lai toàn cầu nói chung và Nhật Bản nói riêng. Nước này đặt mục tiêu giảm 46% lượng khí thải nhà kính vào năm 2030, với những nỗ lực đến nay đã góp phần giảm được 20%. Tokyo thậm chí còn phấn đấu giảm 50% lượng khí thải nhà kính vào năm 2030 để phù hợp với lời kêu gọi của Hội nghị thượng đỉnh G7 lần thứ 49 tổ chức tại Hiroshima năm 2023 về việc các quốc gia theo đuổi mục tiêu Net Zero thông qua các con đường cân bằng tăng trưởng kinh tế với an ninh năng lượng. Để đạt được mục tiêu tham vọng này, Chính phủ Nhật Bản đưa ra chiến lược tăng trưởng xanh kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường trên 14 lĩnh vực có tiềm năng cao. Chiến lược này tập trung vào việc: (1) Khử carbon cho điện thông qua năng lượng tái tạo, năng lượng hạt nhân và hydro; (2) Thúc đẩy quá trình điện khí hóa trong các lĩnh vực công nghiệp, giao thông và tiêu dùng; (3) Thực hiện cải cách về ngân sách, thuế và quy định, với dự báo cho thấy việc làm này có thể tạo ra mức tăng trưởng hàng năm là 2,6 tỷ USD vào năm 2050. Điện hạt nhân cũng là lĩnh vực được Nhật Bản chú trọng để tối đa hóa việc triển khai năng lượng sạch Riêng lĩnh vực năng lượng, Nhật Bản quyết tâm tối đa hóa việc triển khai năng lượng sạch; đồng thời mở rộng năng lượng mặt trời; và ủng hộ việc tăng gấp 3 công suất năng lượng tái tạo trên toàn cầu. Tokyo cam kết cung cấp chuỗi năng lượng bền vững và có kế hoạch chấm dứt việc xây dựng mới các nhà máy điện than trong nước. Với số tiền lên tới 70 tỷ USD dành cho tài chính khí hậu, Nhật Bản tiếp tục dẫn đầu các nỗ lực toàn cầu để chống lại biến đổi khí hậu. Dựa vào thiên nhiên để cứu hành tinh Các tín chỉ carbon đến từ nhiều dự án khác nhau, bao gồm: (1) Giải pháp dựa trên thiên nhiên: Như tái trồng rừng, bảo tồn rừng và lưu trữ carbon trong đất. (2) Năng lượng tái tạo: Các dự án như trang trại gió và mặt trời thay thế năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch. (3) Công nghệ thu giữ carbon: Thu giữ carbon trực tiếp từ không khí hoặc lưu trữ carbon trong đất thông qua than sinh học. Và Nhật Bản không chỉ tập trung vào vấn đề năng lượng sạch mà còn dựa vào thiên nhiên để “làm giàu”. Một trong những chiến lược đổi mới của Nhật Bản phải kể đến Tín chỉ loại bỏ carbon dựa trên thiên nhiên (NCRC) – một “mỏ vàng xanh” mới mà nước này đang khai thác. Một ví dụ đáng chú ý là quan hệ đối tác gần đây giữa Tập đoàn Marubeni Corporation và Công ty vận tải Mitsui OSK Lines, Ltd. (MOL) – cùng của Nhật, để thành lập một liên doanh có tên Marubeni MOL Forests, nhằm tạo ra, mua, bán và hủy bỏ Tín chỉ loại bỏ carbon dựa trên tự nhiên – thông qua các dự án trồng rừng và thu giữ carbon. Trong dự án khởi đầu, Marubeni MOL Forests có kế hoạch thành lập 10.000 hecta rừng mới tại Ấn Độ, hướng tới mục tiêu tạo ra tín chỉ carbon bắt đầu từ năm 2028. Ngoài việc giảm phát thải, các dự án này còn góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, cải tạo đất và quản lý tài nguyên nước. Cách tiếp cận kép này đảm bảo hành động vì khí hậu trong khi vẫn bảo vệ môi trường tự nhiên. Khu rừng cổ đại trên đảo Yakushima của Nhật
Ngành gỗ Việt Nam vừa lập kỷ lục mới: Thị trường phát triển bùng nổ qua 160 nước, thu về hơn 412.000 tỷ
Năm 2024 khép lại với một loạt kỷ lục về xuất khẩu của các ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam. Tổng cộng, kim ngạch xuất khẩu năm 2024 của nước ta tăng 14,3% so với cùng kỳ năm 2023, đạt 405,53 tỷ USD). Nếu như xuất khẩu gạo tiếp tục củng cố vị trí Top 3 thế giới (với 2 kỷ lục về sản lượng và giá trị), thì ngành dệt may tăng trưởng thần tốc để đưa Việt Nam vươn lên vị trí số 2 thế giới. Mới đây nhất, Tổng cục Hải quan tiếp tục thông báo kỷ lục mới mà ngành gỗ nước ta đạt được trong năm 2024. Cụ thể, trị giá xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 16,25 tỷ USD (tương đương 412.262.500.000.000 VND), tăng 20,3% so với năm 2023. Gỗ và các sản phẩm gỗ Việt Nam hiện nay có mặt tại 160 quốc gia và vùng lãnh thổ trên quy mô toàn cầu. Có được thành tựu đáng mừng này là kết quả của hành trình nỗ lực không ngừng nghỉ của ngành gỗ Việt Nam suốt một năm qua. Bước sang năm mới, Cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đánh giá triển vọng xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong năm 2025 rất tích cực, với mục tiêu xuất khẩu đạt khoảng 18 tỷ USD. Sản xuất xanh trong ngành gỗ: Biến thách thức thành lợi thế cạnh tranh Song song với tín hiệu khả quan này, các chuyên gia dự báo rằng, ngành gỗ nước ta có thể phải đối mặt với nhiều thách thức. Có thể kể đến sự cạnh tranh mạnh từ các đối thủ trong khu vực như Indonesia, Thái Lan và Malaysia; Quan trọng nhất, các thị trường lớn như châu Âu và Mỹ đang đòi hỏi rất khắt khe về xuất xứ gỗ bền vững, thân thiện môi trường. Điều này, đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động chuyển đổi xanh để đáp ứng các nhu cầu thị trường. Cổng thông tin Bộ Công thương trích lời ông Ngô Sỹ Hoài – Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Viforest) cho biết: “Hiệu lực của EUDR (Quy định của Liên minh Châu Âu (EU) không gây mất rừng và suy thoái rừng) đang đến gần, do đó Hiệp hội đang lập kế hoạch tổ chức đào tạo về thực hiện trách nhiệm giải trình, bảo đảm gỗ hợp pháp khi đưa vào chuỗi cung ứng và chuyển đổi xanh. Việc các quốc gia EU đã có yêu cầu về Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) – theo đó hàng hóa nhập khẩu vào EU sẽ phải chịu thêm chi phí và doanh nghiệp phải chuyển đổi mô hình sản xuất ít phát thải hơn để có tín chỉ carbon, Hiệp hội đang khuyến khích các doanh nghiệp bảo đảm sản xuất xanh, thương mại xanh, tăng trường xanh và tăng cường chuyển đổi số”. Liên quan đến tín chỉ carbon rừng, WTO Center cho biết, ngành công nghiệp gỗ Việt Nam có tiềm năng to lớn trong việc tăng doanh thu từ việc bán tín chỉ carbon. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Việt Nam có hơn 14 triệu hecta rừng, nếu được quản lý tốt, sẽ mang lại cơ hội cho đất nước tận dụng thị trường tín chỉ carbon. Việc Việt Nam – quốc gia đầu tiên ở khu vực Đông Á Thái Bình Dương – nhận được khoản chi trả 51,5 triệu USD từ Ngân hàng Thế giới (World Bank) do hạn chế được mất rừng và suy thoái rừng (gọi là REDD+) và tăng cường lưu trữ carbon thông qua trồng và tái tạo rừng cho thấy Việt Nam đang đến gần hơn với việc thực hiện các Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) đầy tham vọng của Chính phủ theo Thỏa thuận Paris về Biến đổi khí hậu, đồng thời bảo vệ các khu vực quan trọng cho bảo tồn đa dạng sinh học. PGS. TS. Nguyễn Đình Thọ – Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho biết, là một trong những quốc gia sản xuất gỗ và lâm nghiệp lớn nhất thế giới, Việt Nam đang có chính sách phát triển ngành lâm nghiệp theo hướng bền vững, bao gồm tài chính xanh và thị trường carbon, giúp giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và giải quyết các thách thức về môi trường. Sự chuyển mình này cho thấy, các lãnh đạo ngành gỗ đang xem những yêu cầu khắt khe về tính bền vững, thân thiện môi trường của các thị trường EU, Mỹ là lợi thế để doanh nghiệp Việt đẩy mạnh mục tiêu sản xuất xanh. Phát triển bền vững sẽ là vấn đề trọng tâm để cải thiện đơn hàng và tăng doanh thu từ hoạt động xuất khẩu ra toàn thế giới. Bởi giảm phát thải carbon đã trở thành yêu cầu đối với hầu hết các ngành sản xuất. Nhu cầu gỗ toàn cầu bùng nổ Nhìn rộng ra trên thế giới, Viện Tài nguyên Thế giới (WRI) đánh giá: Nhu cầu gỗ toàn cầu dự kiến sẽ tăng 54% trong giai đoạn 2010-2050 do ngày càng có nhiều cây được sử dụng làm nhiên liệu và sản xuất các tòa nhà, đồ nội thất và sản phẩm giấy. Đến giữa thế kỷ, con người dự kiến sẽ san phẳng khoảng 3 triệu dặm vuông đất rừng — một diện tích tương đương với kích thước của lục địa Mỹ. Hệ quả, việc chặt cây tràn lan sẽ làm suy yếu những nỗ lực giảm lượng khí thải gây nóng lên toàn cầu. Bởi bản thân cây cối lưu trữ một lượng carbon khổng lồ trong thân, cành và rễ của chúng. Khi chúng bị chặt hạ, lượng carbon được lưu
Gừng đen có tác dụng gì mà được săn lùng đến vậy?
” Y học cổ truyền Việt Nam có nhiều vị thuốc quý. Một trong số đó là gừng đen. Trong bài viết này chúng ta sẽ cùng tìm hiểu gừng đen là gì và gừng đen có tác dụng gì. “ Nếu quan tâm đến các vị thuốc Đông y và phương pháp chữa bệnh bằng dược liệu, chắc hẳn bạn đã từng nghe đến vị thuốc có tên gừng đen. Nếu chưa biết gừng đen khác gừng thường ở chỗ nào? Gừng đen có tác dụng gì? Cách sử dụng gừng đen ra sao? Gừng đen là loại gừng gì? Gừng đen (tên khoa học Kaempferia parviflora) còn được biết đến với các tên gọi khác như ngải tím, ngải đen. Đây là loại thực vật thân thảo, thuộc họ gừng, có rất nhiều điểm tương đồng với gừng thông thường. Lá cây gừng đen to và cao khoảng 0,3 đến 0,5m, dạng trứng nhọn ở đầu khác hoàn toàn lá gừng ta. Hoa của cây gừng đen là những cụm màu trắng hoặc tím rất đẹp mắt. Bên ngoài, củ gừng đen có vỏ nâu khá giống với loại gừng thông thường chúng ta thường dùng. Tuy nhiên, củ gừng đen kích cỡ thường không lớn bằng, bên trong ruột màu tím đen chứ không phải màu vàng. Gừng đen có vị cay nồng và hơi đắng. Ở nước ta, gừng đen phân bố tự nhiên ở các tỉnh Tây Bắc hoặc Tây Nguyên. Ngày nay, gừng đen được nhân trồng rộng rãi khắp nơi để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng cao của người dùng. Từ xa xưa, gừng đen đã được sử dụng như một vị thuốc trong y học cổ truyền. Cây gừng đen với lá to khác biệt so với cây gừng thường Gừng đen có tác dụng gì? Gừng đen có tác dụng gì? Những công dụng của loại gừng này đối với sức khỏe được cả Đông y và Tây y công nhận. Có thể kể đến những tác dụng nổi bật của gừng đen như: 1. Tăng cường chức năng sinh lý nam giới Các nghiên cứu chỉ ra chiết xuất gừng đen có tác dụng trong việc điều trị chứng rối loạn cương dương. So với việc dùng các loại thuốc hay thực phẩm chức năng, dùng gừng đen không mang đến tác dụng phụ nên nam giới cảm thấy yên tâm hơn trong quá trình sử dụng. 2. Giúp phòng và chữa bệnh vẩy nến Trong chiết xuất gừng đen có chứa methoxy luteolin có tác dụng giúp các tế bào mast được giải phóng để ngăn ngừa tình trạng viêm nhiễm các tế bào và loại bỏ các thành phần protein có liên quan đến hình thành bệnh vảy nến. Chúng ta có thể dùng gừng đen để phòng ngừa và hỗ trợ điều trị bệnh vảy nến. 3. Làm chậm quá trình lão hóa Trong gừng đen có hàm lượng chất chống oxy hóa dồi dào và mạnh mẽ. Các chất chống oxy hóa này có tác dụng bảo vệ các tế bào khỏi quá trình oxy hóa và sự tấn công của các gốc tự do. Nhờ đó nó giúp làm chậm quá trình lão hóa của các tế bào trên cơ thể. Gừng đen được cho là có dược tính cao hơn gừng thường 4. Hỗ trợ tốt cho bệnh nhân tiểu đường Gừng đen có tác dụng gì? Đây là một vị thuốc hỗ trợ kiểm soát đường huyết, tốt cho bệnh nhân tiểu đường. Ngoài công dụng làm hạ đường huyết, gừng đen giúp tăng độ nhạy của insulin, giúp chuyển hóa đường hiệu quả và giảm hàm lượng đường trong máu. Điều này giúp làm chậm quá trình diễn tiến của bệnh, giảm nguy cơ biến chứng tiểu đường. 5. Cung cấp năng lượng cho cơ thể Gừng đen tăng cường hình thành và sản sinh năng lượng cơ thể bằng cách kích thích AMPK, protein kinase hoặc AMP, kích hoạt các mô mỡ nâu hoặc BAT. Không những giúp cơ thể khỏe mạnh, trí óc minh mẫn, điều này còn giúp đốt cháy calo, hạn chế tích tụ mỡ hiệu quả. Đây là cách mà gừng đen giúp chúng ta kiểm soát vóc dáng trong khi vẫn luôn cảm thấy đủ đầy năng lượng. 6. Kích thích lưu thông tuần hoàn máu Gừng vốn có tính ấm. Gừng đen khi được sử dụng đúng cách sẽ làm các mạch máu trong cơ thể giãn nở, kích thích lưu thông tuần hoàn máu. Điều này giúp giảm nguy cơ thiếu máu não. Máu được lưu thông đều đến cơ thể giúp chúng ta có cơ thể khỏe mạnh, da dẻ hồng hào, mái tóc đen khỏe. Ngoài những công dụng trên, gừng đen còn có tác dụng kháng khuẩn, chống nấm, hỗ trợ chữa viêm loét dạ dày. Gừng cũng tốt cho tinh thần nên nhiều nghiên cứu chứng minh gừng đen có thể hỗ trợ phòng ngừa và điều trị bệnh trầm cảm. Người dân Thái Lan còn dùng dược liệu này để chữa các bệnh tiêu chảy, kiết lỵ, hen suyễn, rong kinh ở phụ nữ,… Gừng đen có tác dụng gì đến đây bạn đã biết rồi chứ? 7. Chữa đau đầu, mất ngủ Nhờ có thể kích thích lưu thông tuần hoàn máu não nên gừng đen giúp chúng ta dễ dàng đi vào giấc ngủ hơn. Tinh dầu trong gừng đen có mùi thơm đặc trưng, giúp thư giãn tinh thần nên cũng hạn chế được chứng đau đầu. Cách chữa đau đầu bằng gừng đã được nhiều người áp dụng và khẳng định hiệu quả. Gừng đen trong Đông y có vị gay, tính ấm, quy vào phế, tỳ, vị. Gừng đen giúp cải thiện giấc ngủ, giúp dễ ngủ, ngủ ngon và sâu giấc hơn. Chúng ta có nhiều cách khác nhau đều sử dụng gừng đen. Bạn có thể dùng gừng tươi,
Với 1ha lúa giảm phát thải, nông dân Đắk Lắk thu thêm được 1,5 triệu đồng
Một doanh nghiệp Thái Lan đã đồng ý chi 20 USD để mua 1 tín chỉ carbon của nông dân trồng lúa ở Đắk Lắk khi có báo cáo giảm phát thải. Mức này gấp đôi giá Ngân hàng Thế giới cam kết chi trả ở đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao tại ĐBSCL. Không nằm trong Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030”, song trải qua 3 tháng trồng lúa theo phương thức tưới ướt – khô xen kẽ và bón phân theo quy trình phù hợp, vụ lúa này gia đình ông Lê Như Hùng ở xã Bình Hòa (Krông Ana, Đắk Lắk) giảm được một nửa lượng nước tưới, giảm 15% chi phí sản xuất, trong khi năng suất lúa tăng 2 tấn so với canh tác kiểu cũ. Với 4ha lúa trồng theo hướng giảm phát thải, gia đình ông vừa thu hoạch được gần 45 tấn thóc. Hiện, ông Hùng và nông dân tham gia trồng lúa giảm phát thải carbon tại xã Bình Hòa đang chờ bán tín chỉ carbon cho doanh nghiệp nước ngoài. Tại xã Bình Hòa có 42ha diện tích canh tác lúa được áp dụng theo quy trình tưới ướt khô xen kẽ của Viện Nghiên cứu Lúa quốc tế IRRI. Năng suất lúa dự kiến đạt 11 tấn/ha. Doanh nghiệp Thái Lan đồng ý chi trả 20 USD cho 1 tín chỉ carbon lúa ở Đắk Lắk. Ảnh minh họa: Hồ Hoàng Hải Theo tính toán, khi áp dụng phương pháp canh tác của Viện Nghiên cứu Lúa quốc tế IRRI, mỗi 1ha lúa sẽ tạo ra 3 tín chỉ carbon. Đơn vị thu mua tín chỉ carbon lúa ở Đắk Lắk là thành viên của Công ty Netzero Carbon Thái Lan đã quyết định chi trả 20 USD cho 1 tín chỉ. Như vậy, với 1ha giảm phát thải, nông dân thu thêm được 1,5 triệu đồng. Sau khi làm việc trực tiếp với địa phương, đơn vị thu mua cam kết chỉ cần ra báo cáo là mua ngay, không cần có đơn vị thứ 3 cấp tín chỉ carbon. Bởi, hiện tại thị trường quan trọng nhất là châu Âu chưa công nhận bất kỳ chứng nhận của tổ chức nào, nhưng báo cáo giảm phát thải được xây dựng dựa trên tiêu chí chuẩn và quy định của Liên hợp quốc. Ông Trần Minh Tiến – Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Net Zero Carbon Việt Nam cho biết, công ty đang chờ kết quả chính thức của Công ty Spiro Carbon (Mỹ) về kết quả giảm phát thải từ mô hình sản xuất lúa ở Đắk Lắk. Khi có số liệu cụ thể, công ty sẽ mua tín chỉ carbon, đồng thời trao chứng chỉ carbon sản phẩm lúa gạo đầu tiên của Việt Nam cho nông dân Đắk Lắk. Theo lãnh đạo Sở NN-PTNT tỉnh Đắk Lắk, toàn tỉnh sản xuất lúa ổn định trên diện tích 100.000ha. Nếu bán tín chỉ carbon thành công, vụ tới đây tỉnh sẽ mở rộng diện tích trồng lúa giảm phát thải để nông dân có thêm thu nhập, góp phần bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu. Ở nước ta diện tích gieo cấy lúa lên tới 7,1 triệu ha. Ngoài Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030”, nhiều địa phương đang áp dụng mô hình trồng lúa giảm phát thải hướng tới bán tín chỉ carbon. Đơn cử, tỉnh Nghệ An đang phối hợp Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tính toán triển khai tạo tín chỉ carbon chủ yếu từ giảm phát thải khí metan trong sản xuất lúa. Với diện tích trồng lúa trên 180.000ha, mỗi năm Nghệ An có tổng sản lượng lương thực trên dưới 1,1 triệu tấn/năm, đồng thời có tiềm năng giảm 1,44 triệu tấn CO2 tương đương. Dự án hợp tác nhằm phát hành tín chỉ carbon trong sản xuất lúa được bắt đầu triển khai thử nghiệm từ vụ xuân 2024. Ở mùa đầu tiên, dự án sẽ thực hiện trên diện tích gần 6.000ha lúa tại các huyện Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Đô Lương, Diễn Châu… với khoảng 24.000 hộ nông dân tham gia. Chia sẻ với PV.VietNamNet, ông Hà Sỹ Đồng – Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Quảng Trị cho biết, diện tích lúa hữu cơ của tỉnh đã lên tới con số 1.100ha. Xét về mặt khoa học và các tiêu chí để tham gia vào thị trường carbon thì nông nghiệp hữu cơ là hướng đi đầu tiên. Đây là mô hình thành công của tỉnh Quảng Trị để nhân rộng, từ đó hình thành các cánh đồng hữu cơ, tuần hoàn, xoá dần dấu chân carbon trên các mảnh vườn, thửa ruộng, ông Đồng cho hay. Ở Đề án 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và giảm phát thải ở ĐBSCL, Ngân hàng Thế giới ước tính vùng chuyên canh lúa theo đề án khi hình thành có thể giảm 10 triệu tấn carbon mỗi năm. Với giá 10 USD/tín chỉ carbon mà Ngân hàng Thế giới cam kết mua, 1 triệu ha nông dân có thể thu về khoảng 100 triệu USD/năm. Bên cạnh đó, ngành lúa gạo có thêm 16.000 tỷ đồng/năm từ việc giảm chi phí đầu vào và tăng giá thành sản phẩm đầu ra. Chưa kể, các yếu tố tăng thêm về giá trị trong quá trình xây dựng thương hiệu gạo giảm phát thải của Việt Nam. Hiện nay, trồng lúa giảm phát thải được triển khai tại một số tỉnh vùng ĐBSCL. Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Trần Thanh Nam cho hay, Văn phòng Ban chỉ
Tỉnh đầu tiên thu được tiền từ trồng lúa giảm phát thải CO2
Trong khi tại khu vực ĐBSCL mới chỉ thu hoạch được những vụ lúa sản xuất theo hướng giảm phát thải, thì Đắk Lắk đã là tỉnh đầu tiên ở nước ta bán được lượng giảm phát thải carbon từ lúa với giá 20 USD/1 tấn giảm CO2. Mới đây, Sở NN-PTNN tỉnh Đắk Lắk tổ chức tổng kết mô hình thí điểm “Giải pháp lúa xanh giảm phát thải và tăng năng suất được triển khai trong vụ đông xuân 2023–2024”. Tại hội nghị tổng kết này, Công ty Cổ phần Net Zero Carbon mua gần 17 tấn giảm khí CO2 từ mô hình trồng lúa của nông dân ở xã Bình Hoà (Krông Ana, Đắk Lắk). Mỗi tấn giảm carbon lúa này được mua với giá 20 USD. Tuy nhiên, đây không phải là giao dịch mua bán tín chỉ carbon (carbon credit) vì lượng giảm phát thải này chỉ được công nhận bởi Công ty Net Zero Carbon và mua lại bởi chính doanh nghiệp này, như một hình thức khuyến khích trồng lúa giảm phát thải. Đây là lượng giảm khí thải carbon đầu tiên từ lúa của Việt Nam được bán thành công từ mô hình thí điểm Giải pháp lúa xanh giảm phát thải và tăng năng suất tại Đắk Lắk. Mức giá này cũng cao gấp 2 lần giá tín chỉ carbon mà Ngân hàng Thế giới cam kết chi trả cho đề án 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp tại ĐBSCL. Đắk Lắk có kế hoạch mở rộng diện tích lúa giảm phát thải lên 500ha vào vụ Đông Xuân 2024-2025. Ảnh: Báo Đắk Lắk Trước đó, tại xã Bình Hoà, nông dân đã triển khai mô hình thí điểm sản xuất lúa giảm phát thải. Mô hình được áp dụng quy trình canh tác lúa tưới ướt – khô xen kẽ của Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế và áp dụng quy trình báo cáo xác nhận giảm phát thải của Công ty Cổ phần Net Zero Carbon. Sau hơn 3 tháng thực hiện, mô hình thí điểm này đã mang lại kết quả tích cực. So với mô hình đối chứng, năng suất lúa tăng gần 1 tấn/ha, chi phí đầu tư giảm được gần 10%, lợi nhuận tăng gần 20%. Đặc biệt, mô hình này giúp nông dân thay đổi phương pháp canh tác truyền thống, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, cải tạo đất lúa. Qua thử nghiệm, mô hình giúp giảm lượng phát thải được gần 17 tấn khí nhà kính (carbon), góp phần bảo vệ môi trường, lúa sạch hơn và sản xuất an toàn hơn. Từ kết quả bước đầu này, Sở NN-PTNT tỉnh Đắk Lắk sẽ triển khai ra 500 ha lúa trên toàn tỉnh trong vụ Đông Xuân 2024-2025. Qua đó, từng bước góp phần thực hiện các cam kết của Việt Nam với quốc tế về giảm phát thải ròng trong sản xuất nông nghiệp. Theo ông Nguyễn Văn Hà – Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Đắk Lắk, sở này sẽ vạch ra chương trình cụ thể với các địa phương, khuyến nông, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật. Cùng với đó, phối hợp chặt chẽ với cán bộ của công ty để xác định những vùng thực hiện nội dung này, đồng thời hướng dẫn cho người dân, các hợp tác xã thực hiện đúng quy trình để đạt được mục tiêu đề ra. Bởi, việc bán thành công tín chỉ carbon từ mô hình canh tác lúa xanh giảm phát thải tại xã Bình Hòa là cơ sở quan trọng để Đắk Lắk phát triển bền vững ngành hàng lúa gạo, nhằm gia tăng giá trị, nâng cao thu nhập cho người dân, nâng tầm mặt hàng này trở thành thế mạnh của tỉnh. Từ đó, sẽ góp phần cùng ngành lúa gạo Việt Nam chuyển đổi sang con đường phát triển xanh, bền vững. Nguồn bài viết: https://vietnamnet.vn/tinh-dau-tien-thu-duoc-tien-tu-trong-lua-giam-phat-thai-co2-2320861.html
