– Thân tre có thể dùng làm nhà cửa, nông cụ, làm giấy, sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, dụng cụ thể dục thể thao, nhạc cụ, bàn ghế, tủ giường từ thô sơ đến cao cấp và các đồ gia dụng khác.– Trồng tre Tàu hay tre Lục Trúc mau cho thu hoạch. Sau khi trồng một năm đã bắt đầu thu hoạch măng và cây làm giống. Sau ba năm, thu hoạch măng ổn định với năng suất từ 6-30 tấn/ha (tùy thuộc vào việc đầu tư chăm sóc). – Do hàng năm tre, trúc sinh sản vô tính theo cấp số, nên trong bụi tre có nhiều thế hệ tuổi cây. Nếu được chăm sóc tốt và đúng kỹ thuật thì năm nào người trồng cũng được thu hoạch cả măng, thân và giống mà không phải trồng lại trong một chu kỳ lâu dài rất nhiều năm. Ở Việt Nam hiện có một số giống tre chủ yếu nhập từ Trung Quốc và Ðài Loan: Tre tầu, tre lục trúc, tre mạnh tông, tre điền trúc, tre mao trúc, luồng Thanh Hoá. Ở Lâm Ðồng, ngoài giống tre Mạnh tông đã có từ trước, Trung tâm khuyến nông tỉnh trong năm 2001 đã tiến hành trồng thử nghiệm các giống tre tầu, tre mạnh tông; luồng Thanh Hóa tại Bảo Lộc, Ðạ Huoai, Ðạ Tẻh (Lâm trường Ðạ Tẻh có trồng 20ha luồng Thanh Hóa), Cát Tiên. Các giống tre trên đều có kỹ thuật trồng và chăm sóc tương tự nhau, chúng tôi xin giới thiệu kỹ thuật trồng, chăm sóc tre tầu (Sinocalamus Latiflorus. McClure) và cây tre lục trúc (Bambusa Olđhamii. Munro) hiện đang được trồng nhiều tại Việt Nam. Hiện nay cây tre Tàu đã và đang được người dân ở các tỉnh miền Ðông Nam Bộ trồng rất nhiều, có nơi như Phú Thành (Bình Phước) đã trồng trên 300ha. Tre Lục Trúc mới được du nhập từ Ðài Loan vào nước ta hơn 3 năm nay, đã được trồng ở một số tỉnh miền núi phía Bắc (Hà Bắc, Lạng Sơn, Hà Tây?), bắt đầu năm 2000 mới được Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cho phép đưa vào trồng thử nghiệm ở các tỉnh phía Nam, do vậy kỹ thuật trồng và chăm sóc đưa ra chỉ là tài liệu tham khảo từ kỹ thuật trồng thực tế của các giống tre lấy măng khác. 1. ÐẶC TÍNH SINH HỌC Cây tre Tàu có tên khoa học là Dendrocalamus latiflorus Munro thuộc Họ phụ Bambusoideae, Họ Poaceae, lớp Một lá mầm, cây có một thân chính hình tròn rỗng, màu xanh thẫm, khi non có phấn trắng, khi già có màu xanh vàng. Cây cao trung bình 13-15m, thân thẳng thuôn đều, hơi cong ở phần ngọn. Tre Tàu được nhập vào Việt Nam chuyên để kinh doanh măng, năng suất cao (20 tấn/ha/năm), chất lượng cao, có giá trị xuất khẩu. Cây thuộc loại ưa sáng, dễ tính, thích hợp với khí hậu nóng ẩm, phân bố ở độ cao từ 2m đến 850m so với mặt biển, ở vùng có nhiệt độ bình quân năm từ 21-27oC, lượng mưa trung bình trong năm từ 1500-2500 mm/năm, như Bảo Lộc (Lâm Ðồng), Tây Ninh, Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh? Ðây là loại tre được nông dân các tỉnh miền Ðông Nam Bộ trồng rất phổ biến ở quanh nhà để lấy măng và thân tre làm đồ gia dụng. Tre Tàu trồng được trên nhiều loại đất khác nhau có thành phần cơ giới nhẹ và thoát nước, mọc thích hợp nơi có tầng đất canh tác sâu trên 50cm. Cây có thân ngầm, mọc cụm theo kiểu hợp trục, có khả năng tái sinh vô tính rất mạnh. Trồng tre một lần có thể cho thu hoạch 40-50 năm sau. 2. NHÂN GIỐNG Ðối với các loại tre, trúc nói chung có nhiều cách nhân giống để trồng như: – Trồng bằng hom gốc, – Trồng bằng thân ngầm, – Trồng bằng hom cành, – Trồng bằng đoạn thân khí sinh (hom thân), – Trồng bằng hạt. Nên chọn những bụi (khóm) tre phát triển tốt, không sâu bệnh, chưa ra hoa để lấy giống. Có thể trồng bằng giống gốc (hom gốc, thân mềm) hoặc bằng giống hom cành (qua thử nghiệm trồng ở Phân viện nghiên cứu khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ và đã được trồng tại Nông trường Phú Thành – Bình Phước), nhìn chung mỗi phương thức trồng có những ưu nhược điểm khác nhau nhưng về năng suất không sai khác nhau là mấy kể từ năm thứ ba trở đi. Tuy nhiên việc nhân giống tre bằng hom cành cần có sự chuẩn bị trước ít nhất là 3 tháng ươm, cây mới đủ tiêu chuẩn và khả năng sống cao khi đem ra trồng rừng. Hom gốc Nhiều nơi trồng tre Tàu bằng hom gốc. Hom bao gồm một phần thân khí sinh (thân tre) có 3 lóng dài 80-100cm, có đường kính từ 6cm trở lên, mang một thân ngầm 8-10 tháng tuổi được cắt tách từ cây mẹ đem ươm. Vườn ươm nên có địa hình tương đối bằng phẳng và thoát nước. Ðất phải cày bừa kỹ sau đó rạch hàng và bón lót phân chuồng hoai từ 2-3kg/m2. Các hom nên đặt nghiêng 45o so với mặt đất theo cự ly 0,8m x 0,8m, lấp đất kín phần thân ngầm và nén chặt. Lóng trên cùng của hom gốc được đổ đầy nước và dùng cỏ tranh hoặc rơm rạ che bọc xung quanh, tưới giữ ẩm đều cho hom. Vườn ươm nên che phủ 60% ánh sáng, sau 2-4 tuần lễ, hom tre sẽ ra rễ và chồi, lúc đó nên dỡ bỏ dần dàn che, tiếp tục nuôi hom 2,5-3 tháng tuổi, khi hom ra rễ và có cành lá
Kỹ thuật trồng và khai thác tre khổng lồ
Công Dụng Của Trồng Tre Khổng Lồ Cây tre dùng để chắn sóng, chống sụt lở bờ sông, bờ đê, bờ đập, làm nhà cửa, nông cụ, làm giấy, làm khí giới, sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, dụng cụ thể dục thể thao, nhạc cụ, bàn ghế, tủ giường chiếu từ thô sơ đến cao cấp, làm thuốc chữa bệnh, làm thực phẩm cho người. Tre trúc đã được người dân Việt Nam gây trồng từ lâu đời theo lối quảng canh, mục đích chủ yếu là khai thác thân cây tre một phần có kết hợp lấy măng. Những năm gần đây nước ta đã du nhập nhiều giống tre lấy măng, lấy gỗ về trồng ở nhiều địa phương trong cả nước, và giống tre khổng lồ Hitung (Dendrocalamus Asper “Hitung”) và tre thép (Guadua Angustifolia) là 2 trong nhiều giống đó. Đặc Điểm Sinh Học Của Tre Tre trúc là loài thực vật thuộc họ phụ Bambusoideae, họ Poaceae, lớp một lá mầm, là loài cây ưa sáng mọc nhanh. Trên thế giới người ta đã tìm gặp được 1.250 loài, trong đó Châu Á chiếm 900 loài (72%) số còn lại ở Châu Phi, Nam Mỹ, không gặp loài nào có nguồn gốc tại Châu Âu và có rất ít loài bản địa ở Châu Úc. Việt Nam có 92 loài, phân bố từ miền núi, trung du đến đồng bằng trên cả hai miền nam bắc Việt Nam. Khác với cây thân gỗ, tre không có cấu tạo tượng tầng nên không có quy luật hình thành vòng năm, cây có một thân chính hình tròn, rỗng, suôn thẳng và hơi cong ở phần ngọn. Cây sinh sản bằng hai con đường hữu tính và vô tính, nhưng chủ yếu vẫn là sinh sản vô tính bằng thân ngầm hay thân khí sinh (gốc tre hay cành tre). Tre thường mọc thành bụi, mỗi bụi có nhiều thân khí sinh, các bụi tre xuất phát từ thân ngầm (Rhizomes). Các thân ngầm này lại xuất phát từ nách của thân ngầm cũ. Một khi măng nhú lên khỏi mặt đất với đường kính đạt kích thước của thân khí sinh và sau đó không tăng lên đáng kể, khi măng lớn lên, các mo rụng dần. Trên bề mặt của mo thường có nhiều lông tơ và tận cùng của mo có lá mo. Tiết diện ngang của măng thường có hình tròn, rỗng với vách mỏng hay dầy, khi măng nhú lên khỏi mặt đất có màu xanh và thường có lông tơ hay một lớp sáp bao bọc. Thông thường các đốt tre có hình vòng tròn, là nơi phát sinh cành và một vòng rễ ở bên dưới đặc trưng cho từng chi. Sự phân cành trên các đốt kế tiếp theo hướng đối xứng và so le nhau. Cành mang nhiều nhánh nhỏ theo một dạng thức đặc sắc cho từng chi. Thông thường các nhánh nhỏ có mang lá, lá hình lưỡi mác có kích thước thay đổi tùy theo loài. Phần lớn tre trúc mọc tự nhiên ở độ cao dưới 500m so với mặt nước biển, thích hợp ở vùng khí hậu nóng ẩm, có lượng mưa trung bình 1.500mm-2.500 mm/năm, nhiệt độ bình quân 21-270C, cây mọc thích hợp ở những đất có tầng canh tác dầy, nhiều mùn, ẩm, có thành phần cơ giới nhẹ và thoát nước tốt. Đặc Điểm Giống Tre Khổng Lồ (Dendrocalamus Asper “Đá”) Tre khổng lồ Núi Cấm (Dendrocalamus Asper “Đá”) Cây sinh trưởng tốt ở độ cao 200-500 m, lượng mưa trung bình >2.000 mm/năm, nhiệt độ 25°C, ưa nhiều nắng và đất phù sa màu mỡ. Thân Dendrocalamus Asper “Đá” dày, chắc và bền. Ở độ ẩm 8% có tỷ trọng gỗ 0,7-0,8 g/cm3, ở độ ẩm 15% độ bền đứt gãy là 103 N/mm2, độ bền nén song song phương sợi là 31 N/mm2 và độ bền kéo là 31 N/mm2, lực cắt là 7,3 N/mm2 (dành cho bài làm ván sàn). Măng Dendrocalamus Asper “Đá” to và ngọt, được ưa chuộng để ngâm chua và chế biến nhiều món ăn. Chất lượng của loại măng này được coi là tốt nhất so với măng của các loài tre khác dùng làm nguyên liệu thực phẩm, đóng hộp. Gỗ Dendrocalamus Asper “Đá” được sử dụng làm vật liệu xây dựng và gỗ kết cấu để xây dựng nhiều công trình khác nhau bao gồm cột nhà, thuyền, khung nhà, cầu, đường thủy, nhạc cụ, đồ nội thất, đồ gia dụng, đồ thủ công mỹ nghệ, ván ép, bột giấy, đũa, tăm xỉa răng v.v. Đây là loài tre thân thiện với môi trường và bền vững. Cây giống Tre Khổng lồ Chọn cây giống và nhân giống Đối với các loài tre nói chung có nhiều cách nhân giống từ thân ngầm, hom gốc, thân khí sinh (hom thân), hom cành hay trồng bằng hạt, nuôi cấy mô tế bào. Khi nhân giống nên chọn những bụi (khóm) tre phát triển tốt, không sâu bệnh, chưa ra hoa. Lựa những cây không quá non hoặc quá già (bánh tẻ), khoảng 2 năm tuổi để làm giống. Ở các tỉnh miền Trung thường lấy hom giống từ tháng 12 đến tháng 2 sau khi thu hoạch măng(kết thúc mùa mưa) hàng năm để giâm. Nhân giống bằng hom gốc Nhân giống tre bằng hom gốc, hom gồm có một phần thân khí sinh (thân tre) khoảng 2 năm tuổi, có đường kính từ 15cm trở lên, mang một thân ngầm, có chồi mầm không dập nát, không bị thối, đem ươm ở vườn ươm thời gian từ 3 – 4 tháng xuất vườn đem trồng, cây sẽ có tỷ lệ sống cao. Nhân giống bằng hom thân Chọn cây tre 2 năm tuổi cưa ở gốc, phần tiếp giáp với
Kỹ Thuật Trồng và Chăm Sóc Tre
Công Dụng Cây Tre Trước đây cây tre trồng dùng để chắn sóng, chống sụt lở bờ sông, bờ đê, làm nhà cửa, nông cụ, làm giấy, làm khí giới, sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, dụng cụ thể dục thể thao, nhạc cụ, bàn ghế, tủ giường chiếu từ thô sơ đến cao cấp, làm thuốc chữa bệnh, làm thực phẩm cho người. Đặc biệt ngày nay cây tre đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất vật liệu xây dựng như ván ép, bê tông nhẹ, ốp tường nền… thay thế gỗ và cốt thép. Tre trúc đã được người dân Việt Nam gây trồng từ lâu đời theo lối quảng canh, mục đích chủ yếu là khai thác thân cây tre một phần có kết hợp lấy măng. Những năm gần đây nước ta đã du nhập giống tre lấy măng chủ yếu từ Trung Quốc đem về trồng ở nhiều địa phương trong cả nước, theo hướng chuyên sản xuất măng. Ngày nay cây tre đóng vai trò quan trọng trong khí thải nhà kính, tre có thể hấp thụ lượng CO2 nhiều hơn tới năm lần so với cây thông. Trong khi mỗi loại cây đều có vai trò riêng trong hệ sinh thái, thì cây tre có tiềm năng cao trong việc chống lại một lượng lớn CO2 một cách hiệu quả. Ngoài ra, tre hấp thụ các chất ô nhiễm từ không khí, giúp cải thiện chất lượng không khí Tre Khổng Lồ Dendrocalamus Asper “Đá” – dòng tre bản địa đã gắn bó với vùng Núi Cấm – An Giang Đặc tính sinh học Cây tre Tre trúc là loài thực vật thuộc họ phụ Bambusoideae, họ Poaceae, lớp một lá mầm, là loài cây ưa sáng mọc nhanh. Trên thế giới người ta đã tìm gặp được 1250 loài, trong đó Châu Á chiếm 900 loài (72%) số còn lại ở Châu Phi, Nam Mỹ, không gặp loài nào có nguồn gốc tại Châu Âu và có rất ít loài bản địa ở Châu Úc. Việt Nam có 92 loài, phân bố từ miền núi, trung du đến đồng bằng trên cả hai miền nam bắc Việt Nam. Khác với cây thân gỗ, tre không có cấu tạo tượng tầng nên không có quy luật hình thành vòng năm, cây có một thân chính hình tròn, rỗng, suôn thẳng và hơi cong ở phần ngọn. Cây sinh sản bằng hai con đường hữu tính và vô tính, nhưng chủ yếu vẫn là sinh sản vô tính bằng thân ngầm hay thân khí sinh (gốc tre hay cành tre). Tre thường mọc thành bụi, mỗi bụi có nhiều thân khí sinh, các bụi tre xuất phát từ thân ngầm (Rhizomes). Các thân ngầm này lại xuất phát từ nách của thân ngầm cũ. Một khi măng nhú lên khỏi mặt đất với đường kính đạt kích thước của thân khí sinh và sau đó không tăng lên đáng kể, khi măng lớn lên, các mo rụng dần. Trên bề mặt của mo thường có nhiều lông tơ và tận cùng của mo có lá mo. Tiết diện ngang của măng thường có hình tròn, rỗng với vách mỏng hay dầy, khi măng nhú lên khỏi mặt đất có màu xanh và thường có lông tơ hay một lớp sáp bao bọc. Thông thường các đốt tre có hình vòng tròn, là nơi phát sinh cành và một vòng rễ ở bên dưới đặc trưng cho từng chi. Sự phân cành trên các đốt kế tiếp theo hướng đối xứng và so le nhau. Cành mang nhiều nhánh nhỏ theo một dạng thức đặc sắc cho từng chi. Thông thường các nhánh nhỏ có mang lá, lá hình lưỡi mác có kích thước thay đổi tùy theo loài. Phần lớn tre trúc mọc tự nhiên ở độ cao dưới 500m so với mặt nước biển, thích hợp ở vùng khí hậu nóng ẩm, có lượng mưa trung bình 1500mm-2500 mm/năm, nhiệt độ bình quân 21-270C, cây mọc thích hợp ở những đất có tầng canh tác dầy, nhiều mùn, ẩm, có thành phần cơ giới nhẹ và thoát nước tốt. Chọn Cây giống và nhân giống Các phương pháp nhân cây giống Khi sản xuất được mở rộng, nhu cầu về giống cũng tăng theo và phương pháp nhân giống cũng không ngừng cải tiến. Cây tre được nhân giống chủ yếu bằng phương pháp gieo hạt hoặc giâm cành. Cây tre có thể được trồng từ hạt. Hạt được thu nhận vào cuối vòng đời của cây tre và mỗi loài có mỗi chu kỳ khác nhau (3 – 120 năm). Cây tre sau khi ra hoa và kết hạt thì cây sẽ chết đi và phụ thuộc vào điều kiện địa lý, khí hậu hay thổ nhưỡng thì cây mới có thể ra hoa được. Cả 2 phương pháp nhân giống này là tương đối đơn giản, tiết kiệm và được thực hiện ở điều kiện vườn ươm. Tuy nhiên, phương pháp này có một số điểm hạn chế như hệ số nhân giống thấp, chất lượng cây giống kém vì các đoạn chồi thu nhận từ cây mẹ sẽ bị thoái hóa hoặc nhiễm virus sau vài thế hệ. Do đó, người dân luôn cần một số lượng lớn cây giống sạch bệnh để phục vụ sản xuất. Cây giống nuôi cấy mô được chứng minh là phương pháp hữu hiệu để nhân nhanh giống cây trồng với số lượng lớn trong thời gian ngắn và đồng nhất về kiểu gen. Sự thành công của phương pháp vi nhân giống phụ thuộc rất nhiều quy trình nhân giống với các giai đoạn nuôi cấy khác nhau (khử trùng mẫu cấy và tạo nguồn mẫu ban đầu; tái sinh chồi ; nhân nhanh chồi; ra rễ in vitro) và khả năng thuần hóa cây giống trong điều kiện vườn ươm. Trong điều






