Chiến lược vàng cho rừng carbon Việt Nam Rừng trồng dưới 5 năm tuổi và quy mô ≥20 ha đang là lựa chọn thông minh để tối ưu tài chính và giá trị carbon. Trồng xen cây gỗ quý giúp bảo tồn đa dạng sinh học và tăng đoàn lợi nhuận dài hạn. Kết hợp tín chỉ và mô hình FSC là chiến lược toàn diện, hướng tới phát triển bền vững lâu dài. Rừng trồng mới dưới 5 năm tuổi là “vàng xanh” trong thị trường carbon Rừng trồng dưới 5 năm tuổi tạo ra tín chỉ carbon được giá gấp nhiều lần so với rừng tự nhiên, theo các chuyên gia. Việt Nam có tiềm năng về thị trường tín chỉ carbon rừng với lượng giao dịch 57 triệu tín chỉ mỗi năm, giá tùy cung – cầu ở từng thời điểm. Tín chỉ carbon (carbon credit) là một loại giấy phép hoặc chứng chỉ có thể giao dịch, có giá trị mua bán và cung cấp cho người nắm giữ tín chỉ quyền phát thải một tấn CO2 hoặc loại khí thải khác nằm trong danh sách khí thải nhà kính. Theo các chuyên gia, tín chỉ carbon (carbon credits) từ rừng trồng mới – đặc biệt là các diện tích trồng dưới 5 năm tuổi – đang có giá cao gấp nhiều lần so với tín chỉ từ rừng tự nhiên. Nguyên nhân là tốc độ hấp thụ CO₂ của cây non nhanh hơn, mang lại hiệu quả cao cho mục tiêu giảm phát thải , chất lượng tín chỉ carbon từ rừng phụ thuộc vào tuổi cây, cách chăm sóc cũng như cải tạo đất. Ví dụ, tín chỉ từ rừng dưới 5 năm tuổi hoặc trồng mới, phục hồi rừng (ARR) có chất lượng cao, giá vượt trội hơn so với rừng tự nhiên do khả năng hấp thụ carbon cao. Tổng quan về thị trường tín chỉ carbon rừng tại Việt Nam Thị trường lớn và đa dạng: Việt Nam có tiềm năng giao dịch khoảng 57 triệu tín chỉ carbon mỗi năm. Giá trị của mỗi đơn vị dao động mạnh, phụ thuộc vào chất lượng và tuổi rừng tại từng thời điểm. Ông Trần Quang Minh, Tổng giám đốc Công ty cổ phần thương mại và đầu tư tín chỉ carbon Việt Nam (Carbon Credits Vietnam), nói tín chỉ ARR đang được nhiều công ty công nghệ nước ngoài hỏi mua tại Việt Nam. Giá mua trung bình 20 USD một tín chỉ, cao gấp nhiều lần sản phẩm từ rừng trồng trước đây đang dần xuống giá do dư cung trên thị trường tự nguyện quốc tế. All Posts Tin tức Tín chỉ carbon và tài sản số có được thế chấp vay vốn ngân hàng? Read More Một “ông lớn” công nghệ muốn mua tín chỉ carbon rừng Việt Nam: Cơ hội vàng cho… Read More Giá trị tín chỉ rừng trồng và rừng tự nhiên Với rừng trồng mới (ARR), giá trung bình khoảng 20 USD/tín chỉ, được nhiều doanh nghiệp công nghệ quốc tế như Microsoft ưu tiên mua Trong khi đó, tín chỉ từ dự án REDD+ bán được cho Ngân hàng Thế giới với mức 5 USD/tấn CO₂, tương đương khoảng 1,2 triệu đồng/ha trong hai năm. Với rừng trồng ở giai đoạn trước, ngoài chất lượng tín chỉ thấp, số lượng tạo ra do hạn chế mất rừng cũng ít hơn, dẫn tới lợi ích tài chính không cao. Năm ngoái, Ngân hàng Thế giới (World Bank) trả 51,5 triệu USD cho Việt Nam do hạn chế mất và suy thoái rừng (REDD+). Khoản tiền này chi cho 10,3 triệu tấn CO2 giảm thải trên 51,5 ha đất. Tức là, mỗi ha thu được 5 USD, tương đương 120.000 đồng trong gần hai năm. Để nhận được khoản hỗ trợ giảm thải này, cần nhiều công sức kiểm kê, báo cáo, xác lập tín chỉ. Chi phí và rào cản xác lập tín chỉ Carbon Dự án REDD+ yêu cầu kiểm kê, giám sát nghiêm ngặt, sử dụng công nghệ như cloud, blockchain để đảm bảo minh bạch. Với phần việc đo đếm phát thải, người bảo vệ rừng phải ghi nhật ký hàng ngày. Công việc này cần công nghệ hỗ trợ như điện toán đám mây, blockchain nhằm đảm bảo tính chính xác và minh bạch của dữ liệu. Nhưng PGS. TS Nguyễn Đình Thọ, Viện trưởng Viện Chính sách, Tài nguyên và Môi trường, cho rằng khoản chi trả này chỉ mang tính chất “động viên”. “Quá trình này đòi hỏi chi phí lớn trong khi lợi ích mang lại chưa tương xứng”, ông Thọ nói tại tọa đàm về cơ hội, thách thức của thị trường tín chỉ carbon ở Việt Nam vào tháng trước. Bởi lẽ, chi phí liên quan đến phát triển dự án trên do World Bank hỗ trợ. Nếu tự thuê các đơn vị tư vấn, kiểm kê, phí có thể tới 3 USD cho mỗi tín chỉ, trong khi giá bán của loại tín chỉ từ hạn chế mất rừng khá thấp, khoảng 1,2-1,6 USD. Rừng tre khổng lồ tại Núi Cấm Lựa chọn loài cây phù hợp: dài hạn mới bền Với rừng trồng mới, chuyên gia gợi ý cần tính toán quy mô, loại cây, cách trồng nhằm đảm bảo bài toán tài chính khi bán tín chỉ. Ví dụ, về chọn cây trồng, một hợp đồng tín chỉ carbon trung bình 20 năm, đòi hỏi cây trồng có vòng đời dài tương ứng. Theo đó, các loài cây thu hoạch theo mùa vụ hoặc vòng đời ngắn 5 – 7 năm như keo, hồng… cần tránh. “Nông dân nên trồng xen canh với cây bản địa, khuyến khích trồng cây lấy gỗ như tre trồng 1 lần thu hoạch gỗ 50 năm hoặc xen với loài gỗ quý như gù hương, lim”, ông Trần Quang Minh nói. Những cây này có
Có công ty muốn bán 10 triệu tấn tín chỉ carbon nhưng 4,9 triệu tấn bị kẹt
Chuyên gia nói về những gian nan khi làm “chính sách xanh”, nhìn từ ví dụ về tín chỉ carbon với câu chuyện về quy định pháp lý, giá… Trao đổi tại tọa đàm “Triển vọng phát triển Tài chính xanh” do VietnamFinance tổ chức mới đây, TS Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu thương hiệu và cạnh tranh, khẳng định chuyển đổi xanh là xu thế tất yếu, là “mệnh lệnh chính trị” không thể chối từ. “Phát triển xanh không chỉ là cam kết chính trị mạnh mẽ của cả quốc gia, mà là mệnh lệnh từ chính thị trường, người tiêu dùng yêu cầu xanh hơn, an toàn hơn”, ông Thành nói và cho biết 80% lượng vốn tài chính đòi hỏi phải có yếu tố về ESG mới được cấp. Về các thách thức trong thực hiện tài chính xanh của doanh nghiệp, ông Thành nêu 3 yếu tố là chi phí chuyển đổi, áp lực từ thị trường và thể chế. “Với các doanh nghiệp, chuyển đổi xanh là câu chuyện làm ăn, kiếm tiền. Dù muốn hay không muốn cũng phải chuyển đổi. Xã hội đòi hỏi có chữ “xanh” trong tiêu dùng. Thực trạng này tạo ra áp lực cho doanh nghiệp”, ông Thành nói. Chuyên gia nêu vướng mắc khi làm “chính sách xanh” Chuyên gia kinh tế Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển tài chính carbon (CODE), cho biết quá trình làm “chính sách xanh” đang rất “gian nan”. Ông Nghĩa lấy ví dụ từ chính việc đo đếm tín chỉ carbon rừng đang được CODE tiến hành. Đơn vị này thực hiện cả đo máy và đo thủ công để so sánh kết quả. Nếu đo thủ công, với mỗi 1ha rừng sẽ mất 178 triệu đồng, nhân lên với 500ha mà CODE đang sở hữu thì vô cùng tốn kém. Một khu rừng lộc vừng tại tỉnh Quảng Bình (Ảnh: Tiến Thành). Chia sẻ thêm về những vướng mắc trong quá trình phát triển thị trường tài chính carbon, ông Nghĩa cho hay, vướng mắc đầu tiên là quy định pháp lý về quy định về sở hữu tín chỉ carbon. “Rừng thuộc sở hữu của Nhà nước, vậy thì carbon có thuộc sở hữu của Nhà nước hay không? Vừa qua, sau khi 6 tỉnh Bắc Trung Bộ bán tín chỉ carbon rừng cho Ngân hàng Thế giới (WB), tiền được tính cho người dân. Nhưng điều này lại không phù hợp với quy định rừng của Nhà nước”, ông Nghĩa đặt vấn đề. Bên cạnh đó là những vướng mắc liên quan đến việc triển khai sàn giao dịch tín chỉ carbon. Hiện tại, khi bán carbon liên tỉnh, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là đơn vị đứng ra bán. “Tuy nhiên, khi bán riêng lẻ thì lại tỉnh nào tỉnh đó bán. Nếu bán như vậy thì chưa thể mang lên sàn được bởi lẽ khi lên sàn, cần phải có mã và mã phải có chủ. Do đó, CODE đang đề nghị sửa đổi Nghị định 06 để có thể sớm đưa tín chỉ carbon lên sàn”, ông Nghĩa thông tin. Vướng mắc tiếp theo là vấn đề giá. “Vừa qua, chúng ta đã lần đầu tiên bán tín chỉ carbon rừng của 6 tỉnh Bắc Trung Bộ với giá 5 USD/tấn cho WB. Mức giá này khá cao nhưng WB vẫn tặng lại cho Việt Nam tới 95% để đóng NDC (đóng góp do quốc gia tự quyết định về giảm phát thải khí nhà kính) theo cam kết lộ trình Net Zero vào năm 2050”, ông Nghĩa cho hay. Ông Nghĩa nêu thêm thực trạng doanh nghiệp có nhu cầu bán 10 triệu tấn tín chỉ carbon nhưng vẫn còn 4,9 triệu tấn bị “kẹt”. “Nhiều doanh nghiệp đã liên hệ CODE đứng ra giúp họ mua, mặc dù số tín chỉ này chỉ còn hạn trong vòng 17 tháng. Tuy nhiên, khi làm việc với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chúng tôi chưa bán được vì còn nhiều quy trình liên quan đến vấn đề đấu giá như lập hội đồng, cơ quan giám sát, có người xây dựng hồ sơ kỹ thuật… Không biết khi hết hạn thì có thể bán được chưa. Tiền từ bên ngoài rất nhiều nhưng chúng ta thiếu cơ chế để tiếp cận”, ông Nghĩa nhấn mạnh. Mở rộng ra câu chuyện tài chính xanh, chuyên gia Lê Xuân Nghĩa đánh giá “chúng ta đang nói rất nhiều nhưng làm rất ít”. Theo vị này, thực tế, các khoản tín dụng xanh và trái phiếu xanh dành cho các dự án điện gió, điện mặt trời… vẫn chỉ là những khoản cho vay hoặc đầu tư thông thường với đầy đủ điều kiện về tài sản đảm bảo, lãi suất, kỳ hạn mà không có ưu tiên, ưu đãi nào. All Posts Blog Các loại tre Chăm sóc tre Kỹ thuật Lợi ích Tín chỉ carbon Tin tức Phát triển thị trường carbon: Khởi đầu từ hành lang pháp lý 24/05/2025/No Comments Ngày 10-5-2025, Hội thảo quốc tế với chủ đề: “Thị trường carbon kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho… Read More Phát triển thị trường carbon là cuộc chơi “ai nhanh thì thắng” 24/05/2025/No Comments Phó Thủ tướng cho rằng phát triển thị trường carbon là cuộc chơi ai nhanh thì thắng, ai thông minh… Read More Tín dụng xanh còn nhiều dư địa phát triển Tại tọa đàm, ông Nguyễn Tùng Anh – Trưởng phòng Nghiên cứu Tín dụng và Dịch vụ Tài chính xanh (FiinRatings), cho biết dù ghi nhận tốc độ tăng trưởng vượt bậc so với tăng trưởng tín dụng chung, nhưng tín dụng xanh mới chiếm 4,32% tổng dư nợ của toàn nền kinh tế, cho thấy còn nhiều dư địa phát triển. Để khai mở thị trường tài chính xanh trong nước, ông Tùng cho rằng cần yếu tố quan trọng nhất
Phát triển thị trường carbon: Khởi đầu từ hành lang pháp lý
Ngày 10-5-2025, Hội thảo quốc tế với chủ đề: “Thị trường carbon kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam”️ đã diễn ra thành công tại TP HCM. Sự kiện quy tụ các chuyên gia hàng đầu từ Liên hợp quốc, Nga, Mỹ, Canada, Liên minh châu Âu, Trung Quốc, Thái Lan, Úc, Indonesia và Việt Nam, cùng thảo luận về các vấn đề pháp lý và thực tiễn trong việc xây dựng thị trường carbon tại Việt Nam. CEO Lưu Thị Thanh Mẫu, Tổng Giám đốc Phuc Khang Corporation, giữ vai trò diễn giả chính và chủ tọa tại Hội thảo quốc tế nhận định: “Về cơ bản, khung pháp lý hiện hành của Việt Nam bước đầu đã thiết lập nền tảng pháp lý cần thiết cho việc hình thành và phát triển thị trường carbon trong nước, phù hợp với xu thế quốc tế và nghĩa vụ của Việt Nam theo Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu và Thỏa thuận Paris”. CEO Lưu Thị Thanh Mẫu chia sẻ tại hội thảo Vai trò của hành lang pháp lý trong phát triển bền vững thị trường carbon Thị trường carbon không phải là thị trường hàng hóa thông thường, yếu tố pháp lý đóng vai trò “trụ cột” tạo niềm tin và khả năng vận hành. Trọng tâm của hội thảo tập trung vào sự cần thiết và tiên quyết trong việc xây dựng hành lang pháp lý rõ ràng và nhất quán để phát triển bền vững thị trường carbon tại Việt Nam. Nhóm tác giả đến từ Đại học James Cook, Úc và Trường Đại học Luật TP HCM trong tham luận “Thị trường carbon và sự lựa chọn khung pháp lý của Việt Nam cho các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính” đã chỉ ra thực tế liên quan đến thị trường carbon và cơ chế thuế trong hành lang pháp lý: Trong khi thị trường carbon mang lại sự linh hoạt và hiệu quả về chi phí, việc triển khai thành công thị trường này đòi hỏi một khuôn khổ quản lý và cơ sở hạ tầng thị trường hoạt động tốt. Ngược lại, thuế carbon mang lại khả năng dự đoán về giá carbon nhưng có thể gây ra gánh nặng kinh tế cho một số ngành công nghiệp nhất định. Khuôn khổ pháp lý của Việt Nam cần tạo ra sự cân bằng giữa các phương pháp tiếp cận này, tích hợp các yếu tố đảm bảo cả hiệu quả về môi trường và khả thi về mặt kinh tế. Đề xuất từ nhóm tác giả là: “Nên triển khai thuế carbon sau khi Hệ thống giao dịch khí thải (ETS) đã được thiết lập và vận hành ổn định. Ngoài ra, một mô hình kết hợp giữa ETS và thuế carbon cần xác định rõ phạm vi áp dụng của từng cơ chế. Việc làm rõ này rất quan trọng để tránh việc đánh thuế hai lần đối với doanh nghiệp và đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc phát triển bền vững“. TS. Nguyễn Chinh Quang – Đại học James Cook, Úc trình bày tham luận CEO Lưu Thị Thanh Mẫu cũng đã dẫn chứng các quy định, bộ luật, pháp lý liên quan đến thị trường carbon tại Việt Nam đã có hiện nay, như Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Quyết định số 232/QĐ-TTg ngày 24-1-2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án thành lập và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam, Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, trong tham luận “Một số vấn đề pháp lý về hàng hóa của thị trường carbon ở Việt Nam“. Bốn khía cạnh quy định pháp luật về hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon đã được phân tích tại hội thảo, bao gồm: (i) Quy định về quản lý tín chỉ carbon và hạn ngạch phát thải khí nhà kính; (ii) Quy định và tổ chức đánh giá, công nhận chương trình, dự án theo cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon trong nước và quốc tế; (iii) Quy định về chủ thể có thẩm quyền xác nhận hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon được giao dịch trên sàn giao dịch tín chỉ carbon của thị trường carbon trong nước; (iv) Quy định về đấu giá hạn ngạch phát thải khí nhà kính. Có 2 công ty đầu tư dây chuyền sản xuất ván lót sàn container Pháp lý về hạn ngạch phát thải và xác lập quyền sở hữu tín chỉ carbon Một trong những vấn đề được khai thác và thảo luận nhiều tại hội thảo quốc tế là pháp lý về “tín chỉ carbon” và “hạn ngạch phát thải khí nhà kính”. Mối quan hệ giữa “tín chỉ carbon” và “hạn ngạch phát thải khí nhà kính” được xây dựng trên cơ chế Cap and Trade. Trong đó: Cap là Chính phủ sẽ xây dựng hệ thống hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho các đơn vị sản xuất có phát thải, theo đó mỗi đơn vị chỉ được thải ra một lượng nhất định CO₂, hoặc tương đương. Trade là các đơn vị sản xuất phát thải cao hơn hạn ngạch cho phép thì có thể bị áp thuế cao hoặc buộc phải mua thêm hạn ngạch. Thông qua hai quy trình này, quốc gia sẽ giới hạn được tổng lượng CO₂ được phép thải ra môi trường. Các đơn vị không sử dụng hết lượng khí thải trong hạn ngạch có thể tích lũy dưới dạng tín chỉ carbon, bán hoặc trao đổi hạn ngạch thông qua thị trường carbon. Tại hội thảo, TS. Charles Codère – Chủ nhiệm Nghiên cứu về Những thách thức mới của Toàn cầu hóa Kinh tế, Đại học Laval (Canada), cũng đã chia sẻ về mô hình Cap-and-Trade được áp dụng tại tỉnh Quebec. “Mục tiêu của chúng tôi là cung
Phát triển thị trường carbon là cuộc chơi “ai nhanh thì thắng”
Phó Thủ tướng cho rằng phát triển thị trường carbon là cuộc chơi ai nhanh thì thắng, ai thông minh thì nắm bắt, tận dụng được cơ hội để từ vị trí đi sau, còn kém phát triển có thể vươn lên. Chiều 22/8, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà chủ trì cuộc họp cho ý kiến hoàn thiện dự thảo Đề án phát triển thị trường carbon tại Việt Nam. Theo bản dự thảo mới nhất, thị trường carbon sẽ tạo dòng tài chính mới cho hoạt động cắt giảm phát thải khí nhà kính, thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển công nghệ phát thải thấp, phát triển nền kinh tế carbon thấp và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, hướng tới đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Giai đoạn từ năm 2025-2028, thị trường carbon được triển khai thí điểm trên toàn quốc; chưa bán tín chỉ carbon ra nước ngoài; chưa quy định các hoạt động kết nối, trao đổi tín chỉ carbon trong nước với thị trường carbon khu vực và thế giới. Các loại tín chỉ carbon được phép trao đổi, mua bán trên thị trường gồm các tín chỉ thu được từ chương trình, dự án tạo tín chỉ trong nước theo quy định của pháp luật; chương trình, dự án theo cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon quốc tế. Chủ thể tham gia mua, bán trên thị trường là các cơ sở phát thải khí nhà kính lớn thuộc một số lĩnh vực phát thải do Thủ tướng ban hành được phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính, và tổ chức, cá nhân tham gia mua, bán tín chỉ carbon trên sàn giao dịch. Thị trường carbon trong nước là thị trường carbon tuân thủ. Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chịu trách nhiệm vận hành, quản lý, theo dõi và giám sát thị trường tín chỉ carbon. Có 2 công ty đầu tư dây chuyền sản xuất ván lót sàn container Thủ tướng thúc đẩy dự án 3.000 tỷ đồng chế biến tre Việt Nam Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà nhấn mạnh, cần có giải pháp linh hoạt, sáng tạo, đột phá trong triển khai Đề án phát triển thị trường carbon tại Việt Nam (Ảnh: VGP). Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) và Tổng Công ty Lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam xây dựng và cung ứng dịch vụ sàn giao dịch tín chỉ carbon trong nước theo yêu cầu nghiệp vụ về tổ chức, quản lý thị trường và các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật do Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng. Phát biểu tại cuộc họp, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà nhấn mạnh, với tiềm năng rất lớn về năng lượng tái tạo và thị trường carbon, Việt Nam sẽ có sức hút rất lớn đối với các nhà đầu tư. Vì vậy, chúng ta cần có giải pháp linh hoạt, sáng tạo, đột phá trong triển khai Đề án, sớm tiếp cận và theo kịp xu thế trên thế giới. Phó Thủ tướng nhận định rằng phát triển thị trường carbon là cuộc chơi ai nhanh thì thắng, ai thông minh thì nắm bắt, tận dụng được cơ hội để từ vị trí đi sau, còn kém phát triển có thể vươn lên đi cùng và vượt lên. Lãnh đạo Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ đầy đủ các ý kiến đóng góp, khẩn trương hoàn thiện dự thảo Đề án không chỉ đối với thị trường carbon mà cả bộ máy tổ chức, cơ sở hạ tầng… Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các bộ, ngành liên quan phối hợp, xác định cung – cầu của thị trường carbon trong nước, quốc tế. Qua đó, xây dựng khuôn khổ pháp lý trong tính toán, đo đạc, xác định các sản phẩm giao dịch trên thị trường carbon để làm căn cứ xây dựng phương án vận hành tổng thể sàn giao dịch trong nước, cũng như điều kiện kết nối với thị trường quốc tế bảo đảm minh bạch, công khai. Nguồn: https://dantri.com.vn/
Tỷ phú Trần Đình Long bắt đầu sản xuất một sản phẩm mới toanh…
Ván sàn sẽ là sản phẩm mới trong hệ sinh thái sản phẩm của Tập đoàn Hòa Phát. Trong chiến lược dài hạn, Hòa Phát dự kiến dành 20% công suất ván sàn phục vụ mảng container, 80% hướng tới các sản phẩm ván chịu lực cao cấp phục vụ nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu. Chủ tịch Trần Đình Long cho biết: “Ngoài sản xuất ván sàn container, Hòa Phát sẽ sản xuất các loại ván cao cấp để phục vụ nhu cầu của các ngành nội thất, giao thông, xây dựng trong và ngoài nước. Mục tiêu của Tập đoàn là lọt Top 3 doanh nghiệp sản xuất ván sàn tại Việt Nam vào năm 2030”. Công ty sản xuất ván sàn là thành viên thuộc Tập đoàn Hòa Phát được cấp giấy chứng nhận đầu tư ngày 5/2/2024, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất ván sàn các loại, nhằm mở rộng dải sản phẩm của Tập đoàn, đồng thời hoàn thiện chuỗi giá trị container. Công ty đã đầu tư Nhà máy sản xuất ván sàn container đặt tại lô số 35, đường Đ.12, Khu công nghiệp Châu Đức, xã Nghĩa Thành, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Để sản xuất ván sàn chất lượng cao nhất, Hòa Phát đầu tư dây chuyền sản xuất ván hiện đại nhất. Công suất của nhà máy dự kiến là 70.000 m3/năm (tương đương 2,5 triệu m2 sản phẩm/năm). Hiện nay nguyên liệu cho sản xuất gồm tre và cây cao su từ rừng trồng tại Việt Nam, tuân thủ các tiêu chuẩn FSC, sử dụng hỗn hợp vật liệu keo PF, MUF, cốt tre và ván lạng. Sản phẩm ván sàn của Công ty đáp ứng tất cả các tiêu chí kỹ thuật của ván sàn container với các chứng nhận EPA, CARB, FDA. Nhà máy Hòa Phát Với ưu thế sử dụng công nghệ ép nóng, lực ép lên đến 2.800 tấn có nhiều tầng ép và áp lực lớn nhất hiện nay, ván sàn Hòa Phát có đặc tính khác biệt cao hơn so với ván sàn thông thường, khả năng chịu lực vượt trội tới 7.260 kg/cm2, chịu ẩm, chịu lực, chống nước, chống cháy… Hòa Phát sẽ cung cấp sản phẩm ván sàn cho cả thị trường trong nước và xuất khẩu. Có 2 công ty đầu tư dây chuyền sản xuất ván lót sàn container Nguồn từ https://cafebiz.vn/
Có 2 công ty đầu tư dây chuyền sản xuất ván lót sàn container
Hòa Phát chỉ đặt mua sản phẩm đạt chuẩn với giá hợp lý chứ không hợp tác đầu tư với nhà cung cấp nào phát triển sản phẩm ván lót sàn container. Nội dung trên vừa được ông Vũ Đức Sính – Giám đốc Công ty cổ phần Sản xuất Container Hòa Phát, thuộc Tập đoàn Hòa Phát (HPG) chia sẻ với Báo Đầu tư Chứng khoán. Ông có thể cho biết, tiến độ đầu tư nhà máy container Hòa Phát và nhu cầu sản phẩm ván lót sàn container? Nhà máy container Hòa Phát ở Phú Mỹ , Bà Rịa có công suất 200.000 Teu/năm, cần 100 – 120 m3 ván lót sàn/năm. Nhà máy thứ 2 đặt ở phía Bắc có công suất tương đương dự kiến đầu tư sau khi nhà máy đầu tiên đi vào hoạt động vào khoảng tháng 10 năm sau. Quy mô này chúng tôi cần 3 – 4 công ty cung cấp ván lót sàn container. Việc tìm nhà cung cấp ván lót sàn container của Hòa Phát đã có kết quả như thế nào? Hòa Phát đã tham gia sản xuất nội thất trên 20 năm nên các công ty sản xuất ván ép trong nước chúng tôi biết rất rõ về năng lực sản xuất cũng như trình độ. Hiện có 4 công ty đang sản xuất ván lót sàn container, gồm 3 công ty ở miền Nam và một công ty ở miền Bắc. Sản phẩm dùng để sửa chữa container nên nhu cầu không nhiều và không cần chất lượng đạt chuẩn. Hiện nay, mới có 1 công ty sản xuất mẫu thử đạt chuẩn Tekcom. Sau khi tiếp xúc với Hòa Phát, một công ty là Thiên Đức Phát đã quyết định đầu tư nhà máy mới công suất 30.000 m3/năm. Đối tác thứ 2 là Tekcom có tiềm năng về sản xuất ván ép lớn, đang sản xuất ván ép làm hàng nội thất và cốt pha, là đơn vị có mẫu ván lót sàn container đạt chuẩn, cũng đã lên kế hoạch mua sắm dây chuyền sản xuất mới làm ván sàn cung cấp cho Hòa Phát với công suất khoảng 40.000 m3/năm. Ngoài ra, Hòa Phát có thăm và đặt hàng làm mẫu ở một số công ty tiềm năng khác nhưng thử mẫu chưa đạt do chưa đầu tư trang thiết bị phù hợp. Trên thị trường có thông tin với sản phẩm ván lót sàn container có Công ty cổ phần Đầu tư Sao Thái Dương (SJF) đã nghiên cứu phát triển thành công cùng đối tác Hòa Phát và chuyên gia Trung Quốc. Vậy Hòa Phát có hợp tác phát triển sản phẩm này cùng SJF? Mẫu thử ván lót sàn của SJF 3Theo tôi biết, BWG Mai Châu là công ty sản xuất ván tre ép khối dùng cho nội thất và xây dựng. Trên thị trường thế giới đã sản xuất ván sàn container bằng tre nhưng công nghệ hoàn toàn khác (chẻ tre thành nan dệt thành mành sau đó mới ép lại). Nếu sản xuất theo công nghệ hiện đại này thì phải đầu tư mới toàn bộ máy móc thiết bị. Chúng tôi cũng hy vọng BWG sẽ đầu tư thiết bị mới để sản xuất ván sàn container đạt chuẩn với sản lượng 20.000 m3/năm. Hòa Phát không M&A, không tham gia quản trị công ty sản xuất ván tre gỗ ép Chúng tôi không hợp tác đầu tư hay phát triển sản phẩm mà chỉ làm việc với nhà cung cấp có sản phẩm đạt tiêu chuẩn với giá cả phù hợp để họ sản xuất cung cấp ổn định cho Tập đoàn, như truyền thống làm việc với các nhà cung cấp khác. Nguồn từ https://www.tinnhanhchungkhoan.vn/
Thủ tướng thúc đẩy dự án 3.000 tỷ đồng chế biến tre Việt Nam
(Chinhphu.vn) Trưa 17/1 (giờ địa phương), tại Davos, Thụy Sĩ, nhân dịp tham dự Hội nghị WEF Davos năm 2024, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã tiếp lãnh đạo Công ty staBOO Holdings AG – công ty con của BARD AG chuyên nghiên cứu phát triển và sản xuất các sản phẩm nội thất cao cấp. Dưới sự chứng kiến của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, staBOO Holdings AG và Công ty Cổ phần đầu tư Sao Thái Dương đã trao biên bản ghi nhớ về hợp tác đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất tấm ép ván dăm và ván ép OSB từ tre tại tỉnh Thanh Hóa với tổng đầu tư 3.000 tỷ đồng, có công suất 225.000 m3 sản phẩm/năm; dự kiến sẽ tiêu thụ từ 1.000 – 2.000 tấn tre/ngày và tạo ra hơn 3.000 việc làm. Ông Marcus Bards, Chủ tịch hội đồng quản trị Công ty staBOO Holdings AG và các cộng sự đánh giá cao môi trường đầu tư tại Việt Nam; đặc biệt cho rằng Việt Nam có tiềm năng lớn phát triển công nghiệp nội thất, nhất là từ nguồn nguyên liệu tre, luồng. Do đó, staBOO Holdings AG mong muốn đầu tư lâu dài, đồng hành với sự phát triển xanh, bền vững của Việt Nam – một trong những nơi có diện tích tre lớn nhất thế giới, được coi là quê hương của cây tre. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính hoan nghênh và đánh giá cao hợp tác của staBOO với đối tác Việt Nam để xây dựng nhà máy sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường và công nghệ hiện đại; đồng thời cũng rất ý nghĩa bởi cây tre gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Thủ tướng đề nghị hai bên hợp tác chặt chẽ để triển khai dự án có hiệu quả và thành công tại Việt Nam, góp phần nâng cao giá trị, xuất khẩu sản phẩm tre Việt Nam, nhất là sang các nước Trung Đông. Đọc thêm: SJF hợp tác với Tập đoàn Rizome (Mỹ) trồng 2 tỷ cây tre chống biến đổi khí hậu Thủ tướng cho biết, Việt Nam đang ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, công nghệ sạch, quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, có tác động lan toả, kết nối chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu. Trong quá trình triển khai dự án, Thủ tướng đề nghị staBOO Holdings AG tuân thủ các quy định về môi trường; quy hoạch vùng nguyên liệu lâu dài, tạo việc làm, sinh kế và bảo đảm thu nhập ổn định cho người nông dân; đào tạo nhân lực cho lao động địa phương và hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi sản xuất, cung ứng của Công ty trên toàn cầu. Thủ tướng cho biết phía Việt Nam sẽ đồng hành và giao các cơ quan liên quan tiếp tục hỗ trợ Công ty trong việc triển khai dự án theo quy định của pháp luật. Nguồn từ: baochinhphu.vn
Trồng Tre Khổng Lồ – Thu Nhập Ổn Định Từ Gỗ Sinh Khối Cao Cấp
Tại sao nên chọn trồng tre khổng lồ lấy gỗ Tre khổng lồ cho nguồn thu từ gỗ, không chỉ là một lựa chọn kinh tế mà còn là giải pháp mang tính bền vững và đa lợi ích. Đây là lý do tại sao tre khổng lồ là sự lựa chọn vượt trội: Hiệu quả kinh tế vượt trội Khả năng khai thác trọn đời: Tre khổng lồ chỉ cần trồng một lần và có thể khai thác liên tục trong hơn 60 năm. Không như các dòng tre thu lá hoặc thu măng, việc khai thác gỗ của tre khổng lồ không bị hạn chế bởi chu kỳ phát triển. Năng suất cao: Với sản lượng gỗ tre lên đến 200 tấn/ha/năm, gỗ từ tre khổng lồ đáp ứng tốt cho các ngành công nghiệp như xây dựng, nhà, nội thất, vật liệu xây dựng và thủ công mỹ nghệ cao cấp. Thị trường tiêu thụ ổn định: Tre khổng lồ có giá trị cao tối thiểu 200 tấn/ha/năm nhờ chất lượng thân tre chắc chắn, kích thước lớn, đường kính thân trên 20cm, dễ dàng phục vụ cho các dự án lớn cả trong và ngoài nước. Đóng góp cho môi trường Bảo vệ đất và nguồn nước: Tre khổng lồ có hệ thống rễ phát triển mạnh, giúp chống xói mòn đất, giữ nước, và cải thiện độ phì nhiêu cho đất trồng. Giảm khí thải nhà kính: Tre hấp thụ CO2 gấp 5 lần so với cây gỗ thông thường và tạo ra O2 nhiều hơn 1.5 lần, góp phần đáng kể vào việc giảm khí thải nhà kính, đáp ứng các tiêu chuẩn của Quyết định 13/2024/QĐ-TTg. Các sản phẩm vật dụng từ tre Dễ chăm sóc và thích nghi tốt Ít công chăm sóc: Tre khổng lồ rất dễ trồng, phù hợp với nhiều loại đất và điều kiện thời tiết tại Việt Nam. So với các dòng tre thu lá hoặc thu măng, tre khổng lồ không yêu cầu chăm sóc thường xuyên nhưng vẫn cho năng suất vượt trội. Phát triển nhanh: Tre khổng lồ sinh trưởng nhanh chóng, đạt độ trưởng thành khai thác từ năm thứ 5, giúp doanh nghiệp thu hồi vốn sớm hơn. Ứng dụng rộng rãi Ứng dụng linh hoạt: Tre khổng lồ không chỉ dùng để làm nguyên liệu xây dựng, nội thất, mà còn là vật liệu lý tưởng cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, đồ gia dụng cao cấp, và các dự án sản xuất công nghiệp. Tiềm năng du lịch sinh thái: Với vẻ đẹp xanh mát và hùng vĩ, rừng tre khổng lồ còn có thể kết hợp với các mô hình du lịch sinh thái, tạo ra nguồn thu nhập bổ sung. Dự án trồng tre khổng lồ từ Viet Star Bamboo Khi trồng tre khổng lồ, bạn không chỉ nhận được cây giống chất lượng cao mà còn: Định hướng giải pháp đầu ra: Đảm bảo thị trường tiêu thụ ổn định. Đảm bảo bạn không phải lo lắng về việc tiêu thụ gỗ. Tư vấn chiến lược xen canh hiệu quả: Kết hợp cây ngắn ngày hoặc dược liệu dưới tán tre để tạo thêm nguồn thu nhập. Cung cấp cây giống chất lượng cao: Đảm bảo giống thuần chuẩn, năng suất vượt trội. Hỗ trợ kỹ thuật trồng và chăm sóc: Đội ngũ chuyên gia đồng hành cùng bạn từ khi trồng đến khi khai thác. So với các dòng tre chỉ thu lá hoặc thu măng, tre khổng lồ mang đến giải pháp kinh tế, môi trường và xã hội toàn diện hơn. Nếu bạn muốn vừa làm giàu, vừa bảo vệ môi trường và đóng góp vào phát triển bền vững, tre khổng lồ chính là lựa chọn đáng đầu tư! Trồng Tre Khổng Lồ – Nguồn Thu Từ Gỗ Sinh Khối Cao Cấp Bạn đang tìm kiếm một giải pháp nông nghiệp bền vững, mang lại thu nhập ổn định và đầu ra đảm bảo? Tre khổng lồ chính là lựa chọn tối ưu dành cho bạn! Nguồn thu nhập ổn định sinh khối gỗ Sản lượng vượt trội: Tre khổng lồ có khả năng cho sinh khối gỗ cao trên 120kg/cây, với mật độ trồng khoảng 300 cây/ha, sản lượng đạt 200 tấn gỗ/ha/năm. Đây là con số đáng mơ ước cho bất kỳ mô hình nông nghiệp nào. Đầu ra ổn định: Viet Star Bamboo hỗ trợ giải pháp, đồng hành định hướng đầu ra khi bạn đặt mua cây giống. Gỗ tre sẽ được cung cấp cho các nhà máy sản xuất ván ép cao cấp, nhà máy sản xuất than tre, đảm bảo đầu ra ổn định và lợi nhuận lâu dài. Giá trị cao trên thị trường: Gỗ tre khổng lồ được ưa chuộng nhờ tính bền chắc, thân to đẹp, dễ dàng phục vụ cho nhiều ngành công nghiệp như xây dựng, sản xuất nội thất, và chế biến ván ép chất lượng cao. Đầu tư một lần, thu hoạch dài lâu Vòng đời khai thác hơn 60 năm: Trồng một lần nhưng khai thác được liên tục. Mỗi năm, bạn chỉ cần chọn những cây trưởng thành để khai thác, cây mới sẽ mọc lại ngay sau đó. Thời gian hoàn vốn nhanh: Từ năm thứ 5 trở đi, tre bắt đầu cho khai thác, giúp bạn sớm thu hồi vốn và gia tăng lợi nhuận Giá trị kinh tế cao hơn cây trồng khác Không lo rủi ro thị trường: Hợp tác xã Liên Xuân Phát hỗ trợ đầu ra lâu dài, bạn hoàn toàn yên tâm về tiêu thụ sản phẩm. Hiệu quả kinh tế vượt xa cây công nghiệp ngắn ngày: So với các cây trồng như keo, bạch đàn, tre khổng lồ có năng suất sinh khối cao hơn nhiều lần và chu kỳ thu hoạch ngắn hơn. Giải pháp trồng
CÂY TRE – Tiềm năng cho ngành công nghiệp TỶ ĐÔ của Việt Nam
Cây tre không chỉ cung cấp một nguồn thực phẩm dồi dào mà còn cung cấp đa dạng các loại vật dụng thiết yếu phục vụ đời sống và sản xuất. Trên thực tế, cây tre còn là một nguồn cung bất tận cho ngành dệt may, ngành dược phẩm và mỹ phẩm. Vậy đâu là những khó khăn, cũng như những giải pháp cần có để biến ngành hàng tre thành một ngành công nghiệp tỷ Đô của Việt Nam? Thứ trưởng Trần Thanh Nam khẳng định cây tre là mặt hàng nhiều tiềm năng, vừa phục vụ sản xuất công nghiệp vừa phát triển kinh tế nông thôn từ các làng nghề truyền thống. Ngành hàng cây tre – giấc mơ tỷ đô Ngày 4/8, hội thảo “Vai trò của tre nguyên liệu đối với sự phát triển của chuỗi giá trị sản phẩm tre Việt Nam” được tổ chức tại Hà Nội, đây là hội thảo chuyên sâu đầu tiên của ngành hàng này. Chủ trì hội thảo là Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Trần Thanh Nam và Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Hoàng Văn Phòng. Ngoài ra có sự tham gia của các đơn vị thuộc Bộ NN-PTNT, VCCI, một số doanh nghiệp và đại diện các địa phương có vùng trồng tre, luồng lớn ở phía Bắc. Bạn từng nghe đến trồng tre để lấy măng hay lấy gỗ, nhưng đã bao giờ bạn hình dung tre có thể thay thế bê tông và trở thành vật liệu xây dựng công nghiệp xuất khẩu Nguồn nguyên liệu quan trọng Thứ trưởng Trần Thanh Nam nêu rõ, tre là loài cây đã gắn liền với đời sống của người dân nông thôn Việt Nam từ ngàn đời. Tre xuất hiện trong văn hóa, đời sống và còn góp phần vào quá trình đánh giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc của người Việt. Hiện nay, tre là nguyên liệu quan trọng trong các chuỗi sản xuất sản phẩm phục vụ nhu cầu cả trong nước lẫn xuất khẩu. “Theo thống kê, hiện nay cả nước có hơn 1,5 triệu ha tre với hơn 200 giống khác nhau. Với sản lượng hơn 3 tỷ tấn mỗi năm, giá trị xuất khẩu của tre hiện nay đã đạt trên 300 triệu USD/năm”, Thứ trưởng Trần Thanh Nam cho biết thêm. Mặc dù có nhiều tiềm năng, nhưng lãnh đạo Bộ NN-PTNT cũng thừa nhận ngành hàng tre đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Đó không chỉ là thách thức của thị trường, thách thức về biến đổi khí hậu mà còn thách thức lớn nhất về nhận thức về giá trị của loại cây này. Làm rõ hơn vấn đề này, Thứ trưởng nói tre không chỉ là nguyên liệu cho nhiều nhà máy sản xuất bột, sợi hay là vật liệu trong xây dựng mà còn là nguyên liệu sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ cho nhiều làng nghề ở Việt Nam. Thứ trưởng Trần Thanh Nam nhấn mạnh tiềm năng phát triển kinh tế nông thôn của cây tre. “Hiện nay, có hơn 600 làng nghề làm các sản phẩm từ tre. Với những chủ trương, chiến lược của Chính phủ đưa ra thời gian qua, chúng ta cần có giải pháp hỗ trợ, xây dựng các vùng nguyên liệu đặc biệt là gắn được người sản xuất với doanh nghiệp. Khi đó sẽ hình thành các chuỗi sản xuất để tạo ra giá trị cho cả nông dân và doanh nghiệp”, Thứ trưởng Trần Thanh Nam nhấn mạnh. Bên cạnh đó, ông Trần Thanh Nam cũng lưu ý về việc phát triển các ngành nghề gắn với nguyên liệu từ cây tre: “Ngoài cung cấp cho các nhà máy, cần xây dựng hệ thống làng nghề, HTX đồ thủ công mỹ nghệ từ tre để phát triển kinh tế ở vùng nông thôn”. Một vấn đề nữa mà ngành sản xuất sản phẩm từ tre đang gặp phải là về cơ chế, chính sách. Để giải quyết được, ông Trần Thanh Nam khẳng định Bộ NN-PTNT sẽ chỉ đạo các đơn vị trực thuộc, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan để rà soát hệ thống chính sách trước khi có những triển khai cụ thể, tạo điều kiện cho ngành hàng tre phát triển. Một vấn đề nữa để cây tre có thể phát triển xứng tầm với tiềm năng đó là sự vào cuộc của địa phương. Theo Thứ trưởng Trần Thanh Nam: “Các địa phương cần có sự quan tâm, hỗ trợ xây dựng các HTX từ đó nhân rộng mô hình hiệu quả cho các sản phẩm từ tre”.https://youtu.be/NTBuu64iDP0?si=Ab77CK3ZPgMImrGO Liên kết chật chẽ Phó Chủ tịch VCCI Hoàng Văn Phòng cho rằng, để người trồng tre thực sự được hưởng lợi từ loại cây này, cần có sự liên kết chặt chẽ và thực chất giữa người trồng, nhà khoa học và doanh nghiệp thu mua, sản xuất. “Trong liên kết đó, các bên phải có trách nhiệm chung để cùng xây dựng và phát triển, để cây tre phát huy được giá trị của mình”, ông Hoàng Văn Phòng nêu rõ. Lãnh đạo VCCI khẳng định, đơn vị này đã và đang đồng hành cùng với các doanh nghiệp để xây dựng được thị trường ổn định cho các sản phẩm của cây tre. Một giải pháp mà ông Phòng đưa ra đó là các bên cùng nhau nghiên cứu, tìm ra những sản phẩm mới, phong phú hóa các mặt hàng thủ công mỹ nghệ từ cây tre để tăng giá trị vì bản chất những sản phẩm từ tre có vòng đời cao, có thể giữ được từ 10 – 15 năm. Trong khi đó, để tăng cường hiệu quả trong liên kết sản xuất, lãnh đạo Bộ NN-PTNT cho rằng sự ra đời của Hiệp hội ngành tre Việt Nam là
Kỹ thuật trồng và khai thác tre khổng lồ
Công Dụng Của Trồng Tre Khổng Lồ Cây tre dùng để chắn sóng, chống sụt lở bờ sông, bờ đê, bờ đập, làm nhà cửa, nông cụ, làm giấy, làm khí giới, sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, dụng cụ thể dục thể thao, nhạc cụ, bàn ghế, tủ giường chiếu từ thô sơ đến cao cấp, làm thuốc chữa bệnh, làm thực phẩm cho người. Tre trúc đã được người dân Việt Nam gây trồng từ lâu đời theo lối quảng canh, mục đích chủ yếu là khai thác thân cây tre một phần có kết hợp lấy măng. Những năm gần đây nước ta đã du nhập nhiều giống tre lấy măng, lấy gỗ về trồng ở nhiều địa phương trong cả nước, và giống tre khổng lồ Hitung (Dendrocalamus Asper “Hitung”) và tre thép (Guadua Angustifolia) là 2 trong nhiều giống đó. Đặc Điểm Sinh Học Của Tre Tre trúc là loài thực vật thuộc họ phụ Bambusoideae, họ Poaceae, lớp một lá mầm, là loài cây ưa sáng mọc nhanh. Trên thế giới người ta đã tìm gặp được 1.250 loài, trong đó Châu Á chiếm 900 loài (72%) số còn lại ở Châu Phi, Nam Mỹ, không gặp loài nào có nguồn gốc tại Châu Âu và có rất ít loài bản địa ở Châu Úc. Việt Nam có 92 loài, phân bố từ miền núi, trung du đến đồng bằng trên cả hai miền nam bắc Việt Nam. Khác với cây thân gỗ, tre không có cấu tạo tượng tầng nên không có quy luật hình thành vòng năm, cây có một thân chính hình tròn, rỗng, suôn thẳng và hơi cong ở phần ngọn. Cây sinh sản bằng hai con đường hữu tính và vô tính, nhưng chủ yếu vẫn là sinh sản vô tính bằng thân ngầm hay thân khí sinh (gốc tre hay cành tre). Tre thường mọc thành bụi, mỗi bụi có nhiều thân khí sinh, các bụi tre xuất phát từ thân ngầm (Rhizomes). Các thân ngầm này lại xuất phát từ nách của thân ngầm cũ. Một khi măng nhú lên khỏi mặt đất với đường kính đạt kích thước của thân khí sinh và sau đó không tăng lên đáng kể, khi măng lớn lên, các mo rụng dần. Trên bề mặt của mo thường có nhiều lông tơ và tận cùng của mo có lá mo. Tiết diện ngang của măng thường có hình tròn, rỗng với vách mỏng hay dầy, khi măng nhú lên khỏi mặt đất có màu xanh và thường có lông tơ hay một lớp sáp bao bọc. Thông thường các đốt tre có hình vòng tròn, là nơi phát sinh cành và một vòng rễ ở bên dưới đặc trưng cho từng chi. Sự phân cành trên các đốt kế tiếp theo hướng đối xứng và so le nhau. Cành mang nhiều nhánh nhỏ theo một dạng thức đặc sắc cho từng chi. Thông thường các nhánh nhỏ có mang lá, lá hình lưỡi mác có kích thước thay đổi tùy theo loài. Phần lớn tre trúc mọc tự nhiên ở độ cao dưới 500m so với mặt nước biển, thích hợp ở vùng khí hậu nóng ẩm, có lượng mưa trung bình 1.500mm-2.500 mm/năm, nhiệt độ bình quân 21-270C, cây mọc thích hợp ở những đất có tầng canh tác dầy, nhiều mùn, ẩm, có thành phần cơ giới nhẹ và thoát nước tốt. Đặc Điểm Giống Tre Khổng Lồ (Dendrocalamus Asper “Đá”) Tre khổng lồ Núi Cấm (Dendrocalamus Asper “Đá”) Cây sinh trưởng tốt ở độ cao 200-500 m, lượng mưa trung bình >2.000 mm/năm, nhiệt độ 25°C, ưa nhiều nắng và đất phù sa màu mỡ. Thân Dendrocalamus Asper “Đá” dày, chắc và bền. Ở độ ẩm 8% có tỷ trọng gỗ 0,7-0,8 g/cm3, ở độ ẩm 15% độ bền đứt gãy là 103 N/mm2, độ bền nén song song phương sợi là 31 N/mm2 và độ bền kéo là 31 N/mm2, lực cắt là 7,3 N/mm2 (dành cho bài làm ván sàn). Măng Dendrocalamus Asper “Đá” to và ngọt, được ưa chuộng để ngâm chua và chế biến nhiều món ăn. Chất lượng của loại măng này được coi là tốt nhất so với măng của các loài tre khác dùng làm nguyên liệu thực phẩm, đóng hộp. Gỗ Dendrocalamus Asper “Đá” được sử dụng làm vật liệu xây dựng và gỗ kết cấu để xây dựng nhiều công trình khác nhau bao gồm cột nhà, thuyền, khung nhà, cầu, đường thủy, nhạc cụ, đồ nội thất, đồ gia dụng, đồ thủ công mỹ nghệ, ván ép, bột giấy, đũa, tăm xỉa răng v.v. Đây là loài tre thân thiện với môi trường và bền vững. Cây giống Tre Khổng lồ Chọn cây giống và nhân giống Đối với các loài tre nói chung có nhiều cách nhân giống từ thân ngầm, hom gốc, thân khí sinh (hom thân), hom cành hay trồng bằng hạt, nuôi cấy mô tế bào. Khi nhân giống nên chọn những bụi (khóm) tre phát triển tốt, không sâu bệnh, chưa ra hoa. Lựa những cây không quá non hoặc quá già (bánh tẻ), khoảng 2 năm tuổi để làm giống. Ở các tỉnh miền Trung thường lấy hom giống từ tháng 12 đến tháng 2 sau khi thu hoạch măng(kết thúc mùa mưa) hàng năm để giâm. Nhân giống bằng hom gốc Nhân giống tre bằng hom gốc, hom gồm có một phần thân khí sinh (thân tre) khoảng 2 năm tuổi, có đường kính từ 15cm trở lên, mang một thân ngầm, có chồi mầm không dập nát, không bị thối, đem ươm ở vườn ươm thời gian từ 3 – 4 tháng xuất vườn đem trồng, cây sẽ có tỷ lệ sống cao. Nhân giống bằng hom thân Chọn cây tre 2 năm tuổi cưa ở gốc, phần tiếp giáp với





