Chuyên gia nói về những gian nan khi làm “chính sách xanh”, nhìn từ ví dụ về tín chỉ carbon với câu chuyện về quy định pháp lý, giá… Trao đổi tại tọa đàm “Triển vọng phát triển Tài chính xanh” do VietnamFinance tổ chức mới đây, TS Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu thương hiệu và cạnh tranh, khẳng định chuyển đổi xanh là xu thế tất yếu, là “mệnh lệnh chính trị” không thể chối từ. “Phát triển xanh không chỉ là cam kết chính trị mạnh mẽ của cả quốc gia, mà là mệnh lệnh từ chính thị trường, người tiêu dùng yêu cầu xanh hơn, an toàn hơn”, ông Thành nói và cho biết 80% lượng vốn tài chính đòi hỏi phải có yếu tố về ESG mới được cấp. Về các thách thức trong thực hiện tài chính xanh của doanh nghiệp, ông Thành nêu 3 yếu tố là chi phí chuyển đổi, áp lực từ thị trường và thể chế. “Với các doanh nghiệp, chuyển đổi xanh là câu chuyện làm ăn, kiếm tiền. Dù muốn hay không muốn cũng phải chuyển đổi. Xã hội đòi hỏi có chữ “xanh” trong tiêu dùng. Thực trạng này tạo ra áp lực cho doanh nghiệp”, ông Thành nói. Chuyên gia nêu vướng mắc khi làm “chính sách xanh” Chuyên gia kinh tế Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển tài chính carbon (CODE), cho biết quá trình làm “chính sách xanh” đang rất “gian nan”. Ông Nghĩa lấy ví dụ từ chính việc đo đếm tín chỉ carbon rừng đang được CODE tiến hành. Đơn vị này thực hiện cả đo máy và đo thủ công để so sánh kết quả. Nếu đo thủ công, với mỗi 1ha rừng sẽ mất 178 triệu đồng, nhân lên với 500ha mà CODE đang sở hữu thì vô cùng tốn kém. Một khu rừng lộc vừng tại tỉnh Quảng Bình (Ảnh: Tiến Thành). Chia sẻ thêm về những vướng mắc trong quá trình phát triển thị trường tài chính carbon, ông Nghĩa cho hay, vướng mắc đầu tiên là quy định pháp lý về quy định về sở hữu tín chỉ carbon. “Rừng thuộc sở hữu của Nhà nước, vậy thì carbon có thuộc sở hữu của Nhà nước hay không? Vừa qua, sau khi 6 tỉnh Bắc Trung Bộ bán tín chỉ carbon rừng cho Ngân hàng Thế giới (WB), tiền được tính cho người dân. Nhưng điều này lại không phù hợp với quy định rừng của Nhà nước”, ông Nghĩa đặt vấn đề. Bên cạnh đó là những vướng mắc liên quan đến việc triển khai sàn giao dịch tín chỉ carbon. Hiện tại, khi bán carbon liên tỉnh, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là đơn vị đứng ra bán. “Tuy nhiên, khi bán riêng lẻ thì lại tỉnh nào tỉnh đó bán. Nếu bán như vậy thì chưa thể mang lên sàn được bởi lẽ khi lên sàn, cần phải có mã và mã phải có chủ. Do đó, CODE đang đề nghị sửa đổi Nghị định 06 để có thể sớm đưa tín chỉ carbon lên sàn”, ông Nghĩa thông tin. Vướng mắc tiếp theo là vấn đề giá. “Vừa qua, chúng ta đã lần đầu tiên bán tín chỉ carbon rừng của 6 tỉnh Bắc Trung Bộ với giá 5 USD/tấn cho WB. Mức giá này khá cao nhưng WB vẫn tặng lại cho Việt Nam tới 95% để đóng NDC (đóng góp do quốc gia tự quyết định về giảm phát thải khí nhà kính) theo cam kết lộ trình Net Zero vào năm 2050”, ông Nghĩa cho hay. Ông Nghĩa nêu thêm thực trạng doanh nghiệp có nhu cầu bán 10 triệu tấn tín chỉ carbon nhưng vẫn còn 4,9 triệu tấn bị “kẹt”. “Nhiều doanh nghiệp đã liên hệ CODE đứng ra giúp họ mua, mặc dù số tín chỉ này chỉ còn hạn trong vòng 17 tháng. Tuy nhiên, khi làm việc với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chúng tôi chưa bán được vì còn nhiều quy trình liên quan đến vấn đề đấu giá như lập hội đồng, cơ quan giám sát, có người xây dựng hồ sơ kỹ thuật… Không biết khi hết hạn thì có thể bán được chưa. Tiền từ bên ngoài rất nhiều nhưng chúng ta thiếu cơ chế để tiếp cận”, ông Nghĩa nhấn mạnh. Mở rộng ra câu chuyện tài chính xanh, chuyên gia Lê Xuân Nghĩa đánh giá “chúng ta đang nói rất nhiều nhưng làm rất ít”. Theo vị này, thực tế, các khoản tín dụng xanh và trái phiếu xanh dành cho các dự án điện gió, điện mặt trời… vẫn chỉ là những khoản cho vay hoặc đầu tư thông thường với đầy đủ điều kiện về tài sản đảm bảo, lãi suất, kỳ hạn mà không có ưu tiên, ưu đãi nào. All Posts Blog Các loại tre Chăm sóc tre Kỹ thuật Lợi ích Tín chỉ carbon Tin tức Phát triển thị trường carbon: Khởi đầu từ hành lang pháp lý 24/05/2025/No Comments Ngày 10-5-2025, Hội thảo quốc tế với chủ đề: “Thị trường carbon kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho… Read More Phát triển thị trường carbon là cuộc chơi “ai nhanh thì thắng” 24/05/2025/No Comments Phó Thủ tướng cho rằng phát triển thị trường carbon là cuộc chơi ai nhanh thì thắng, ai thông minh… Read More Tín dụng xanh còn nhiều dư địa phát triển Tại tọa đàm, ông Nguyễn Tùng Anh – Trưởng phòng Nghiên cứu Tín dụng và Dịch vụ Tài chính xanh (FiinRatings), cho biết dù ghi nhận tốc độ tăng trưởng vượt bậc so với tăng trưởng tín dụng chung, nhưng tín dụng xanh mới chiếm 4,32% tổng dư nợ của toàn nền kinh tế, cho thấy còn nhiều dư địa phát triển. Để khai mở thị trường tài chính xanh trong nước, ông Tùng cho rằng cần yếu tố quan trọng nhất
Phát triển thị trường carbon: Khởi đầu từ hành lang pháp lý
Ngày 10-5-2025, Hội thảo quốc tế với chủ đề: “Thị trường carbon kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam”️ đã diễn ra thành công tại TP HCM. Sự kiện quy tụ các chuyên gia hàng đầu từ Liên hợp quốc, Nga, Mỹ, Canada, Liên minh châu Âu, Trung Quốc, Thái Lan, Úc, Indonesia và Việt Nam, cùng thảo luận về các vấn đề pháp lý và thực tiễn trong việc xây dựng thị trường carbon tại Việt Nam. CEO Lưu Thị Thanh Mẫu, Tổng Giám đốc Phuc Khang Corporation, giữ vai trò diễn giả chính và chủ tọa tại Hội thảo quốc tế nhận định: “Về cơ bản, khung pháp lý hiện hành của Việt Nam bước đầu đã thiết lập nền tảng pháp lý cần thiết cho việc hình thành và phát triển thị trường carbon trong nước, phù hợp với xu thế quốc tế và nghĩa vụ của Việt Nam theo Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu và Thỏa thuận Paris”. CEO Lưu Thị Thanh Mẫu chia sẻ tại hội thảo Vai trò của hành lang pháp lý trong phát triển bền vững thị trường carbon Thị trường carbon không phải là thị trường hàng hóa thông thường, yếu tố pháp lý đóng vai trò “trụ cột” tạo niềm tin và khả năng vận hành. Trọng tâm của hội thảo tập trung vào sự cần thiết và tiên quyết trong việc xây dựng hành lang pháp lý rõ ràng và nhất quán để phát triển bền vững thị trường carbon tại Việt Nam. Nhóm tác giả đến từ Đại học James Cook, Úc và Trường Đại học Luật TP HCM trong tham luận “Thị trường carbon và sự lựa chọn khung pháp lý của Việt Nam cho các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính” đã chỉ ra thực tế liên quan đến thị trường carbon và cơ chế thuế trong hành lang pháp lý: Trong khi thị trường carbon mang lại sự linh hoạt và hiệu quả về chi phí, việc triển khai thành công thị trường này đòi hỏi một khuôn khổ quản lý và cơ sở hạ tầng thị trường hoạt động tốt. Ngược lại, thuế carbon mang lại khả năng dự đoán về giá carbon nhưng có thể gây ra gánh nặng kinh tế cho một số ngành công nghiệp nhất định. Khuôn khổ pháp lý của Việt Nam cần tạo ra sự cân bằng giữa các phương pháp tiếp cận này, tích hợp các yếu tố đảm bảo cả hiệu quả về môi trường và khả thi về mặt kinh tế. Đề xuất từ nhóm tác giả là: “Nên triển khai thuế carbon sau khi Hệ thống giao dịch khí thải (ETS) đã được thiết lập và vận hành ổn định. Ngoài ra, một mô hình kết hợp giữa ETS và thuế carbon cần xác định rõ phạm vi áp dụng của từng cơ chế. Việc làm rõ này rất quan trọng để tránh việc đánh thuế hai lần đối với doanh nghiệp và đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc phát triển bền vững“. TS. Nguyễn Chinh Quang – Đại học James Cook, Úc trình bày tham luận CEO Lưu Thị Thanh Mẫu cũng đã dẫn chứng các quy định, bộ luật, pháp lý liên quan đến thị trường carbon tại Việt Nam đã có hiện nay, như Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Quyết định số 232/QĐ-TTg ngày 24-1-2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án thành lập và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam, Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, trong tham luận “Một số vấn đề pháp lý về hàng hóa của thị trường carbon ở Việt Nam“. Bốn khía cạnh quy định pháp luật về hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon đã được phân tích tại hội thảo, bao gồm: (i) Quy định về quản lý tín chỉ carbon và hạn ngạch phát thải khí nhà kính; (ii) Quy định và tổ chức đánh giá, công nhận chương trình, dự án theo cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon trong nước và quốc tế; (iii) Quy định về chủ thể có thẩm quyền xác nhận hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon được giao dịch trên sàn giao dịch tín chỉ carbon của thị trường carbon trong nước; (iv) Quy định về đấu giá hạn ngạch phát thải khí nhà kính. Có 2 công ty đầu tư dây chuyền sản xuất ván lót sàn container Pháp lý về hạn ngạch phát thải và xác lập quyền sở hữu tín chỉ carbon Một trong những vấn đề được khai thác và thảo luận nhiều tại hội thảo quốc tế là pháp lý về “tín chỉ carbon” và “hạn ngạch phát thải khí nhà kính”. Mối quan hệ giữa “tín chỉ carbon” và “hạn ngạch phát thải khí nhà kính” được xây dựng trên cơ chế Cap and Trade. Trong đó: Cap là Chính phủ sẽ xây dựng hệ thống hạn ngạch phát thải khí nhà kính cho các đơn vị sản xuất có phát thải, theo đó mỗi đơn vị chỉ được thải ra một lượng nhất định CO₂, hoặc tương đương. Trade là các đơn vị sản xuất phát thải cao hơn hạn ngạch cho phép thì có thể bị áp thuế cao hoặc buộc phải mua thêm hạn ngạch. Thông qua hai quy trình này, quốc gia sẽ giới hạn được tổng lượng CO₂ được phép thải ra môi trường. Các đơn vị không sử dụng hết lượng khí thải trong hạn ngạch có thể tích lũy dưới dạng tín chỉ carbon, bán hoặc trao đổi hạn ngạch thông qua thị trường carbon. Tại hội thảo, TS. Charles Codère – Chủ nhiệm Nghiên cứu về Những thách thức mới của Toàn cầu hóa Kinh tế, Đại học Laval (Canada), cũng đã chia sẻ về mô hình Cap-and-Trade được áp dụng tại tỉnh Quebec. “Mục tiêu của chúng tôi là cung
Phát triển thị trường carbon là cuộc chơi “ai nhanh thì thắng”
Phó Thủ tướng cho rằng phát triển thị trường carbon là cuộc chơi ai nhanh thì thắng, ai thông minh thì nắm bắt, tận dụng được cơ hội để từ vị trí đi sau, còn kém phát triển có thể vươn lên. Chiều 22/8, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà chủ trì cuộc họp cho ý kiến hoàn thiện dự thảo Đề án phát triển thị trường carbon tại Việt Nam. Theo bản dự thảo mới nhất, thị trường carbon sẽ tạo dòng tài chính mới cho hoạt động cắt giảm phát thải khí nhà kính, thúc đẩy chuyển đổi xanh, phát triển công nghệ phát thải thấp, phát triển nền kinh tế carbon thấp và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, hướng tới đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Giai đoạn từ năm 2025-2028, thị trường carbon được triển khai thí điểm trên toàn quốc; chưa bán tín chỉ carbon ra nước ngoài; chưa quy định các hoạt động kết nối, trao đổi tín chỉ carbon trong nước với thị trường carbon khu vực và thế giới. Các loại tín chỉ carbon được phép trao đổi, mua bán trên thị trường gồm các tín chỉ thu được từ chương trình, dự án tạo tín chỉ trong nước theo quy định của pháp luật; chương trình, dự án theo cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon quốc tế. Chủ thể tham gia mua, bán trên thị trường là các cơ sở phát thải khí nhà kính lớn thuộc một số lĩnh vực phát thải do Thủ tướng ban hành được phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính, và tổ chức, cá nhân tham gia mua, bán tín chỉ carbon trên sàn giao dịch. Thị trường carbon trong nước là thị trường carbon tuân thủ. Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chịu trách nhiệm vận hành, quản lý, theo dõi và giám sát thị trường tín chỉ carbon. Có 2 công ty đầu tư dây chuyền sản xuất ván lót sàn container Thủ tướng thúc đẩy dự án 3.000 tỷ đồng chế biến tre Việt Nam Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà nhấn mạnh, cần có giải pháp linh hoạt, sáng tạo, đột phá trong triển khai Đề án phát triển thị trường carbon tại Việt Nam (Ảnh: VGP). Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) và Tổng Công ty Lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam xây dựng và cung ứng dịch vụ sàn giao dịch tín chỉ carbon trong nước theo yêu cầu nghiệp vụ về tổ chức, quản lý thị trường và các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật do Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng. Phát biểu tại cuộc họp, Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà nhấn mạnh, với tiềm năng rất lớn về năng lượng tái tạo và thị trường carbon, Việt Nam sẽ có sức hút rất lớn đối với các nhà đầu tư. Vì vậy, chúng ta cần có giải pháp linh hoạt, sáng tạo, đột phá trong triển khai Đề án, sớm tiếp cận và theo kịp xu thế trên thế giới. Phó Thủ tướng nhận định rằng phát triển thị trường carbon là cuộc chơi ai nhanh thì thắng, ai thông minh thì nắm bắt, tận dụng được cơ hội để từ vị trí đi sau, còn kém phát triển có thể vươn lên đi cùng và vượt lên. Lãnh đạo Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính nghiên cứu, tiếp thu đầy đủ đầy đủ các ý kiến đóng góp, khẩn trương hoàn thiện dự thảo Đề án không chỉ đối với thị trường carbon mà cả bộ máy tổ chức, cơ sở hạ tầng… Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các bộ, ngành liên quan phối hợp, xác định cung – cầu của thị trường carbon trong nước, quốc tế. Qua đó, xây dựng khuôn khổ pháp lý trong tính toán, đo đạc, xác định các sản phẩm giao dịch trên thị trường carbon để làm căn cứ xây dựng phương án vận hành tổng thể sàn giao dịch trong nước, cũng như điều kiện kết nối với thị trường quốc tế bảo đảm minh bạch, công khai. Nguồn: https://dantri.com.vn/
Tín chỉ carbon thu về 800 usd/ha. Việt Nam có thể trở thành bể chứa carbon lớn của thế giới
Việt Nam có thể trở thành bể chứa carbon lớn của thế giới Thị trường tín chỉ carbon tự nguyện đang bước vào giai đoạn chín muồi phát triển, với giá cao hơn nhiều lần mức trung bình 3-5 USD giao dịch hơn 20 năm qua. Thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam đã manh nha từ hơn 20 năm trước. Theo dữ liệu của World Bank, tính đến 2023, Việt Nam có trên 42 triệu tín chỉ được cấp bởi các tổ chức quốc tế Verra, Gold Standard hoặc theo cơ chế phát triển sạch (CDM, thành lập theo Nghị định thư Kyoto 1997). Các tín chỉ giao dịch chủ yếu thuộc lĩnh vực năng lượng tái tạo, biogas… . thu về gần chục triệu USD mỗi dự án. Hiện nay, các tín chỉ từ rừng trồng mới có giá trung bình 20 USD, trong khi công nghệ than sinh học đạt tới 150 USD. Quy đổi ra giá, mỗi tín chỉ carbon quanh 3-5 USD. “Việt Nam có thể tận dụng thế mạnh về nông – lâm nghiệp, trở thành bể chứa carbon lớn của thế giới”, ông Trần Quang Minh – Tổng giám đốc Công ty cổ phần thương mại và đầu tư tín chỉ carbon Việt Nam (Carbon Credits Vietnam) nói với VnExpress. Tín chỉ carbon (carbon credit) là một loại giấy phép hoặc chứng chỉ có thể giao dịch, có giá trị mua bán và cung cấp cho người nắm giữ tín chỉ quyền phát thải một tấn CO2 hoặc loại khí thải khác nằm trong danh sách khí thải nhà kính. Thị trường tín chỉ này đang bước vào giai đoạn chín muồi của sự phát triển, theo giới phân tích, nhờ chất lượng tín chỉ cao hơn trước và giá gấp nhiều lần mức cũ trong bối cảnh khung pháp lý dần hình thành và hướng tới Net Zero vào 2050. Ví dụ, các loại tín chỉ chất lượng cao từ rừng trồng mới được các công ty công nghệ nước ngoài hỏi mua nhiều, giá trung bình 20 USD mỗi tín chỉ. Mức này gấp 4 lần khoản World Bank chi trả cho mỗi tấn CO2 giảm thải do hạn chế được mất và suy thoái rừng (REDD+) hồi đầu năm ngoái, theo ông Trần Quang Minh. Nhiều doanh nghiệp đang đẩy mạnh tham gia thị trường. Carbon Credits Vietnam triển khai dự án 500 ha tại Phú Thọ, giúp người trồng rừng thu về 800 USD/ha. VinaCapital lập Quỹ VinaCarbon đầu tư vào lâm nghiệp bền vững, nông nghiệp phát thải thấp và xử lý chất thải. Tuy nhiên, phát triển dự án tín chỉ carbon yêu cầu quy trình phức tạp kéo dài 2-3 năm, với các điều kiện nghiêm ngặt như không chặt trắng rừng, dùng phân hữu cơ và trồng xen cây bản địa. Quy mô tối thiểu 20 ha được khuyến nghị để tối ưu lợi nhuận. Bước nhảy vọt tỷ đô: Quốc gia châu Á vừa đạt vị trí số 1 Sắp vận hành thí điểm thị trường carbon tại Việt Nam Khung pháp lý cho cơ chế giao dịch trên thị trường tín chỉ carbon Theo TS. Bùi Duy Tùng, ĐH RMIT, thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển với nhiều bước tiến về khung pháp lý, chính sách và lộ trình triển khai. Việt Nam đã tạo ra nền tảng pháp lý rõ ràng để phát triển thị trường tín chỉ carbon nhằm thực hiện các cam kết quốc tế về giảm phát thải khí nhà kính. Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020 và Nghị định số 06/2022/NĐ-CP đặt nền móng cho các cơ chế giao dịch tín chỉ carbon. Theo lộ trình phát triển, từ năm 2022 đến 2027, Việt Nam tập trung vào việc xây dựng các quy định quản lý tín chỉ carbon và triển khai thí điểm cơ chế trao đổi tín chỉ carbon. Trong giai đoạn này, các cơ quan chức năng đã xây dựng quy chế vận hành sàn giao dịch tín chỉ carbon, dự kiến đi vào hoạt động thí điểm vào năm 2025. Đến năm 2028, sàn giao dịch này sẽ chính thức vận hành, mở rộng kết nối với các thị trường carbon trong khu vực và quốc tế. Trong năm 2024, một công ty tư vấn đã thực hiện giao dịch mua hơn 16 tấn CO₂ giảm phát thải từ một dự án lúa tại Tây Nguyên với mức giá 20 USD/tấn. Thỏa thuận ERPA Bắc Trung Bộ đã chuyển nhượng 10,3 triệu tấn carbon dioxide với đơn giá 5 USD/tấn. Bộ NN&PTNT đang tiếp tục đàm phán chuyển nhượng 5,15 triệu tấn tín chỉ carbon từ vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, với mức giá tối thiểu 10 USD/tấn, đạt tổng giá trị 51,5 triệu USD. Ngày 2/5/2024, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo tăng cường công tác quản lý tín chỉ carbon nhằm thực hiện đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC). Mặc dù đã có những bước tiến quan trọng, khung pháp lý cho thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Vì vậy, Chính phủ cần sớm ban hành các quy định chi tiết và hướng dẫn cụ thể để doanh nghiệp có cơ sở tham gia tích cực hơn, đồng thời đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả của thị trường. Cần 5,6 tỷ đô la đầu tư mỗi năm để đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 Mục tiêu phát ròng bằng 0 trên thế giới cần 5,6 tỷ đô la đầu tư mỗi năm. Tuy nhiên, mục tiêu này chưa đạt được. Năm 2024, đầu tư toàn cầu vào năng lượng carbon thấp đạt 2,1 nghìn tỷ USD, tăng 11% so với năm 2023 nhưng chỉ đạt 37% mức cần thiết để đạt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Trung Quốc
Bước nhảy vọt tỷ đô: Quốc gia châu Á vừa đạt vị trí số 1 thế giới, mục tiêu thế kỷ ngay trước mắt!
Quốc gia châu Á đó chính là Nhật Bản – Nền kinh tế lớn thứ 2 của châu lục. Báo cáo MSCI Carbon Markets mới nhất phát hành tháng 1/2025 của Công ty tài chính Mỹ MSCI cho biết, thị trường tín chỉ carbon toàn cầu vẫn ổn định ở mức 1,4 tỷ USD vào năm 2024. Tuy nhiên, thị trường này có thể bùng nổ lên tới 35 tỷ USD vào năm 2030. Đến năm 2050, con số này là 250 tỷ USD. Và Nhật Bản vừa là quốc gia dẫn đầu thị trường tín chỉ carbon thế giới khi nhu cầu toàn cầu về các giải pháp bền vững ngày càng tăng. Với các khoản đầu tư đáng kể – 70 tỷ USD dành cho tài chính khí hậu, các thỏa thuận song phương và các cách tiếp cận sáng tạo, nền kinh tế lớn thứ hai châu Á (là Nhật Bản – GDP đạt 4230,86 tỷ USD năm 2024) đang củng cố vị thế là quốc gia dẫn đầu trong quá trình phi carbon hóa. Từ việc xây dựng quan hệ đối tác quốc tế đến thúc đẩy các giải pháp dựa trên thiên nhiên, những nỗ lực này của Nhật Bản phù hợp với cam kết đạt được mức phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050, Carboncredits đánh giá trong một bài báo đăng ngày 20/1/2025. Hãy xem Nhật Bản đã, đang và sẽ làm gì để đạt được mục tiêu tham vọng nhưng hoàn toàn khả thi này như thế nào. Net Zero năm 2050: Mục tiêu thế kỷ với 70 tỷ USD Tại Hội nghị thượng đỉnh về khí hậu COP28, Thủ tướng Fumio Kishida tái khẳng định cam kết mạnh mẽ của Nhật Bản trong việc đạt được mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Trong bối cảnh thế giới đang phải đối mặt với những thách thức trong việc đạt được mục tiêu khí hậu 1,5 độ, Thủ tướng Kishida nhấn mạnh rằng các hành động thực hiện cho đến năm 2030 có vai trò quan trọng trong việc định hướng tương lai toàn cầu nói chung và Nhật Bản nói riêng. Nước này đặt mục tiêu giảm 46% lượng khí thải nhà kính vào năm 2030, với những nỗ lực đến nay đã góp phần giảm được 20%. Tokyo thậm chí còn phấn đấu giảm 50% lượng khí thải nhà kính vào năm 2030 để phù hợp với lời kêu gọi của Hội nghị thượng đỉnh G7 lần thứ 49 tổ chức tại Hiroshima năm 2023 về việc các quốc gia theo đuổi mục tiêu Net Zero thông qua các con đường cân bằng tăng trưởng kinh tế với an ninh năng lượng. Để đạt được mục tiêu tham vọng này, Chính phủ Nhật Bản đưa ra chiến lược tăng trưởng xanh kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường trên 14 lĩnh vực có tiềm năng cao. Chiến lược này tập trung vào việc: (1) Khử carbon cho điện thông qua năng lượng tái tạo, năng lượng hạt nhân và hydro; (2) Thúc đẩy quá trình điện khí hóa trong các lĩnh vực công nghiệp, giao thông và tiêu dùng; (3) Thực hiện cải cách về ngân sách, thuế và quy định, với dự báo cho thấy việc làm này có thể tạo ra mức tăng trưởng hàng năm là 2,6 tỷ USD vào năm 2050. Điện hạt nhân cũng là lĩnh vực được Nhật Bản chú trọng để tối đa hóa việc triển khai năng lượng sạch Riêng lĩnh vực năng lượng, Nhật Bản quyết tâm tối đa hóa việc triển khai năng lượng sạch; đồng thời mở rộng năng lượng mặt trời; và ủng hộ việc tăng gấp 3 công suất năng lượng tái tạo trên toàn cầu. Tokyo cam kết cung cấp chuỗi năng lượng bền vững và có kế hoạch chấm dứt việc xây dựng mới các nhà máy điện than trong nước. Với số tiền lên tới 70 tỷ USD dành cho tài chính khí hậu, Nhật Bản tiếp tục dẫn đầu các nỗ lực toàn cầu để chống lại biến đổi khí hậu. Dựa vào thiên nhiên để cứu hành tinh Các tín chỉ carbon đến từ nhiều dự án khác nhau, bao gồm: (1) Giải pháp dựa trên thiên nhiên: Như tái trồng rừng, bảo tồn rừng và lưu trữ carbon trong đất. (2) Năng lượng tái tạo: Các dự án như trang trại gió và mặt trời thay thế năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch. (3) Công nghệ thu giữ carbon: Thu giữ carbon trực tiếp từ không khí hoặc lưu trữ carbon trong đất thông qua than sinh học. Và Nhật Bản không chỉ tập trung vào vấn đề năng lượng sạch mà còn dựa vào thiên nhiên để “làm giàu”. Một trong những chiến lược đổi mới của Nhật Bản phải kể đến Tín chỉ loại bỏ carbon dựa trên thiên nhiên (NCRC) – một “mỏ vàng xanh” mới mà nước này đang khai thác. Một ví dụ đáng chú ý là quan hệ đối tác gần đây giữa Tập đoàn Marubeni Corporation và Công ty vận tải Mitsui OSK Lines, Ltd. (MOL) – cùng của Nhật, để thành lập một liên doanh có tên Marubeni MOL Forests, nhằm tạo ra, mua, bán và hủy bỏ Tín chỉ loại bỏ carbon dựa trên tự nhiên – thông qua các dự án trồng rừng và thu giữ carbon. Trong dự án khởi đầu, Marubeni MOL Forests có kế hoạch thành lập 10.000 hecta rừng mới tại Ấn Độ, hướng tới mục tiêu tạo ra tín chỉ carbon bắt đầu từ năm 2028. Ngoài việc giảm phát thải, các dự án này còn góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, cải tạo đất và quản lý tài nguyên nước. Cách tiếp cận kép này đảm bảo hành động vì khí hậu trong khi vẫn bảo vệ môi trường tự nhiên. Khu rừng cổ đại trên đảo Yakushima của Nhật
Với 1ha lúa giảm phát thải, nông dân Đắk Lắk thu thêm được 1,5 triệu đồng
Một doanh nghiệp Thái Lan đã đồng ý chi 20 USD để mua 1 tín chỉ carbon của nông dân trồng lúa ở Đắk Lắk khi có báo cáo giảm phát thải. Mức này gấp đôi giá Ngân hàng Thế giới cam kết chi trả ở đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao tại ĐBSCL. Không nằm trong Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030”, song trải qua 3 tháng trồng lúa theo phương thức tưới ướt – khô xen kẽ và bón phân theo quy trình phù hợp, vụ lúa này gia đình ông Lê Như Hùng ở xã Bình Hòa (Krông Ana, Đắk Lắk) giảm được một nửa lượng nước tưới, giảm 15% chi phí sản xuất, trong khi năng suất lúa tăng 2 tấn so với canh tác kiểu cũ. Với 4ha lúa trồng theo hướng giảm phát thải, gia đình ông vừa thu hoạch được gần 45 tấn thóc. Hiện, ông Hùng và nông dân tham gia trồng lúa giảm phát thải carbon tại xã Bình Hòa đang chờ bán tín chỉ carbon cho doanh nghiệp nước ngoài. Tại xã Bình Hòa có 42ha diện tích canh tác lúa được áp dụng theo quy trình tưới ướt khô xen kẽ của Viện Nghiên cứu Lúa quốc tế IRRI. Năng suất lúa dự kiến đạt 11 tấn/ha. Doanh nghiệp Thái Lan đồng ý chi trả 20 USD cho 1 tín chỉ carbon lúa ở Đắk Lắk. Ảnh minh họa: Hồ Hoàng Hải Theo tính toán, khi áp dụng phương pháp canh tác của Viện Nghiên cứu Lúa quốc tế IRRI, mỗi 1ha lúa sẽ tạo ra 3 tín chỉ carbon. Đơn vị thu mua tín chỉ carbon lúa ở Đắk Lắk là thành viên của Công ty Netzero Carbon Thái Lan đã quyết định chi trả 20 USD cho 1 tín chỉ. Như vậy, với 1ha giảm phát thải, nông dân thu thêm được 1,5 triệu đồng. Sau khi làm việc trực tiếp với địa phương, đơn vị thu mua cam kết chỉ cần ra báo cáo là mua ngay, không cần có đơn vị thứ 3 cấp tín chỉ carbon. Bởi, hiện tại thị trường quan trọng nhất là châu Âu chưa công nhận bất kỳ chứng nhận của tổ chức nào, nhưng báo cáo giảm phát thải được xây dựng dựa trên tiêu chí chuẩn và quy định của Liên hợp quốc. Ông Trần Minh Tiến – Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Net Zero Carbon Việt Nam cho biết, công ty đang chờ kết quả chính thức của Công ty Spiro Carbon (Mỹ) về kết quả giảm phát thải từ mô hình sản xuất lúa ở Đắk Lắk. Khi có số liệu cụ thể, công ty sẽ mua tín chỉ carbon, đồng thời trao chứng chỉ carbon sản phẩm lúa gạo đầu tiên của Việt Nam cho nông dân Đắk Lắk. Theo lãnh đạo Sở NN-PTNT tỉnh Đắk Lắk, toàn tỉnh sản xuất lúa ổn định trên diện tích 100.000ha. Nếu bán tín chỉ carbon thành công, vụ tới đây tỉnh sẽ mở rộng diện tích trồng lúa giảm phát thải để nông dân có thêm thu nhập, góp phần bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu. Ở nước ta diện tích gieo cấy lúa lên tới 7,1 triệu ha. Ngoài Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030”, nhiều địa phương đang áp dụng mô hình trồng lúa giảm phát thải hướng tới bán tín chỉ carbon. Đơn cử, tỉnh Nghệ An đang phối hợp Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tính toán triển khai tạo tín chỉ carbon chủ yếu từ giảm phát thải khí metan trong sản xuất lúa. Với diện tích trồng lúa trên 180.000ha, mỗi năm Nghệ An có tổng sản lượng lương thực trên dưới 1,1 triệu tấn/năm, đồng thời có tiềm năng giảm 1,44 triệu tấn CO2 tương đương. Dự án hợp tác nhằm phát hành tín chỉ carbon trong sản xuất lúa được bắt đầu triển khai thử nghiệm từ vụ xuân 2024. Ở mùa đầu tiên, dự án sẽ thực hiện trên diện tích gần 6.000ha lúa tại các huyện Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Đô Lương, Diễn Châu… với khoảng 24.000 hộ nông dân tham gia. Chia sẻ với PV.VietNamNet, ông Hà Sỹ Đồng – Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Quảng Trị cho biết, diện tích lúa hữu cơ của tỉnh đã lên tới con số 1.100ha. Xét về mặt khoa học và các tiêu chí để tham gia vào thị trường carbon thì nông nghiệp hữu cơ là hướng đi đầu tiên. Đây là mô hình thành công của tỉnh Quảng Trị để nhân rộng, từ đó hình thành các cánh đồng hữu cơ, tuần hoàn, xoá dần dấu chân carbon trên các mảnh vườn, thửa ruộng, ông Đồng cho hay. Ở Đề án 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và giảm phát thải ở ĐBSCL, Ngân hàng Thế giới ước tính vùng chuyên canh lúa theo đề án khi hình thành có thể giảm 10 triệu tấn carbon mỗi năm. Với giá 10 USD/tín chỉ carbon mà Ngân hàng Thế giới cam kết mua, 1 triệu ha nông dân có thể thu về khoảng 100 triệu USD/năm. Bên cạnh đó, ngành lúa gạo có thêm 16.000 tỷ đồng/năm từ việc giảm chi phí đầu vào và tăng giá thành sản phẩm đầu ra. Chưa kể, các yếu tố tăng thêm về giá trị trong quá trình xây dựng thương hiệu gạo giảm phát thải của Việt Nam. Hiện nay, trồng lúa giảm phát thải được triển khai tại một số tỉnh vùng ĐBSCL. Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Trần Thanh Nam cho hay, Văn phòng Ban chỉ
Tỉnh đầu tiên thu được tiền từ trồng lúa giảm phát thải CO2
Trong khi tại khu vực ĐBSCL mới chỉ thu hoạch được những vụ lúa sản xuất theo hướng giảm phát thải, thì Đắk Lắk đã là tỉnh đầu tiên ở nước ta bán được lượng giảm phát thải carbon từ lúa với giá 20 USD/1 tấn giảm CO2. Mới đây, Sở NN-PTNN tỉnh Đắk Lắk tổ chức tổng kết mô hình thí điểm “Giải pháp lúa xanh giảm phát thải và tăng năng suất được triển khai trong vụ đông xuân 2023–2024”. Tại hội nghị tổng kết này, Công ty Cổ phần Net Zero Carbon mua gần 17 tấn giảm khí CO2 từ mô hình trồng lúa của nông dân ở xã Bình Hoà (Krông Ana, Đắk Lắk). Mỗi tấn giảm carbon lúa này được mua với giá 20 USD. Tuy nhiên, đây không phải là giao dịch mua bán tín chỉ carbon (carbon credit) vì lượng giảm phát thải này chỉ được công nhận bởi Công ty Net Zero Carbon và mua lại bởi chính doanh nghiệp này, như một hình thức khuyến khích trồng lúa giảm phát thải. Đây là lượng giảm khí thải carbon đầu tiên từ lúa của Việt Nam được bán thành công từ mô hình thí điểm Giải pháp lúa xanh giảm phát thải và tăng năng suất tại Đắk Lắk. Mức giá này cũng cao gấp 2 lần giá tín chỉ carbon mà Ngân hàng Thế giới cam kết chi trả cho đề án 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp tại ĐBSCL. Đắk Lắk có kế hoạch mở rộng diện tích lúa giảm phát thải lên 500ha vào vụ Đông Xuân 2024-2025. Ảnh: Báo Đắk Lắk Trước đó, tại xã Bình Hoà, nông dân đã triển khai mô hình thí điểm sản xuất lúa giảm phát thải. Mô hình được áp dụng quy trình canh tác lúa tưới ướt – khô xen kẽ của Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế và áp dụng quy trình báo cáo xác nhận giảm phát thải của Công ty Cổ phần Net Zero Carbon. Sau hơn 3 tháng thực hiện, mô hình thí điểm này đã mang lại kết quả tích cực. So với mô hình đối chứng, năng suất lúa tăng gần 1 tấn/ha, chi phí đầu tư giảm được gần 10%, lợi nhuận tăng gần 20%. Đặc biệt, mô hình này giúp nông dân thay đổi phương pháp canh tác truyền thống, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, cải tạo đất lúa. Qua thử nghiệm, mô hình giúp giảm lượng phát thải được gần 17 tấn khí nhà kính (carbon), góp phần bảo vệ môi trường, lúa sạch hơn và sản xuất an toàn hơn. Từ kết quả bước đầu này, Sở NN-PTNT tỉnh Đắk Lắk sẽ triển khai ra 500 ha lúa trên toàn tỉnh trong vụ Đông Xuân 2024-2025. Qua đó, từng bước góp phần thực hiện các cam kết của Việt Nam với quốc tế về giảm phát thải ròng trong sản xuất nông nghiệp. Theo ông Nguyễn Văn Hà – Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Đắk Lắk, sở này sẽ vạch ra chương trình cụ thể với các địa phương, khuyến nông, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật. Cùng với đó, phối hợp chặt chẽ với cán bộ của công ty để xác định những vùng thực hiện nội dung này, đồng thời hướng dẫn cho người dân, các hợp tác xã thực hiện đúng quy trình để đạt được mục tiêu đề ra. Bởi, việc bán thành công tín chỉ carbon từ mô hình canh tác lúa xanh giảm phát thải tại xã Bình Hòa là cơ sở quan trọng để Đắk Lắk phát triển bền vững ngành hàng lúa gạo, nhằm gia tăng giá trị, nâng cao thu nhập cho người dân, nâng tầm mặt hàng này trở thành thế mạnh của tỉnh. Từ đó, sẽ góp phần cùng ngành lúa gạo Việt Nam chuyển đổi sang con đường phát triển xanh, bền vững. Nguồn bài viết: https://vietnamnet.vn/tinh-dau-tien-thu-duoc-tien-tu-trong-lua-giam-phat-thai-co2-2320861.html
Cách Kiếm Tiền Từ Tín Chỉ Carbon
Nhận 1,2 tỷ dù không cần thế chấp nhà, xe: Cách đầu tư mới khiến nhiều người bất ngờ. Không có tài sản thế chấp, Thứ mà Người Ông Dương được Ngân hàng Nông Thương Chiết Giang gợi ý một giải pháp vay. Đó là thế chấp “không khí” trong rừng tre để vay vốn. Thế chấp “không khí” trong rừng tre để vay vốn Không phải xe cộ, đất cát hay nhà ở, thứ người này mang thế chấp khiến nhiều người ngạc nhiên. ông Dương Trung Dũng Sinh ra và lớn lên giữa rừng tre xanh bát ngát, kế thừa và gắn bó với sự nghiệp trồng tre từ những năm 1995. Cho tới hiện tại, gia đình ông Dương đã sở hữu 8.000 mẫu tre và là một trong những hộ trồng tre và cung cấp tre lớn nhất nhì khu vực An Cát (Chiết Giang, Trung Quốc). Mùa hè năm 2022, do điều kiện thời tiết cực đoan, quê hương ông chịu nhiều tổn thất từ những cơn bão lớn. Trong đó, rừng tre của gia đình ông Dương là một trong những khu vực bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nhiều con đường được ông Dương dày công xây dựng để vận chuyển tre đã bị hư hại. Sau cơn bão, ông Dương muốn sửa lại đường nhưng trước đó gia đình đã thế chấp đất để vay khoản tiền đầu tư, hiện tại khoản nợ hàng trăm nghìn tệ còn chưa trả hết. Do đó việc vay thêm tiền để sửa chữa đường rất khó khăn. Đúng vào lúc rơi vào tình cảnh “tiến thoái lưỡng nan”, ông Dương được Ngân hàng Nông Thương Chiết Giang gợi ý một giải pháp. Đó là thế chấp “không khí” trong rừng tre để vay vốn. Bán tín chỉ carbon: Tiềm năng lớn trong ngành nông nghiệp Chia sẻ về khoản vay không khí của Ông Dương Khi nghe tới chuyện dùng “không khí” trong rừng tre để thế chấp, ông Dương ban đầu cảm thấy bất ngờ, thậm chí không tin có chuyện này. “Người ta thế chấp nhà, xe hay các tài sản có giá trị, chứ làm gì có ai lại thế chấp ‘không khí’ bao giờ”, ông Dương chia sẻ. Trước những điều ông Dương cho là không tưởng, ông Trương – giám đốc Ngân hàng Nông Thương An Cát khi đó đã ân cần giảng giải cho ông Dương về “khoản vay không khí”. Để có thể nhận được “khoản vay không khí” này, đầu tiên ông Dương cần hiểu về quy trình “giao dịch tín chỉ Carbon”. Ông Trương tới tận nhà trao đổi với ông Dương về “khoản vay không khí”. Ảnh: Baijia Hao Tín chỉ Carbon từ rừng tre như thế nào? Tín chỉ carbon (carbon credit) là thuật ngữ thể hiện một trong những biện pháp chủ chốt nhất được thiết lập với mục đích làm giảm lượng khí thải carbon trên toàn cầu. Đơn giản mà nói, những người sở hữu rừng cây rộng lớn, đạt tiêu chuẩn có khả năng hấp thụ khí CO2, góp phần làm giảm khí thải nhà kính và sự nóng lên của toàn cầu, sẽ đóng vai người bán tín chỉ carbon. Còn các xí nghiệp, nhà máy, công ty trong quá trình sản xuất, kinh doanh phát thải CO2 hoặc gây phát thải các loại khí nhà kính khác vượt mức quy định hiện hành sẽ “đóng vai” bên đi mua tín chỉ carbon. Khoản tiền mua – bán này sẽ được chính quyền minh bạch, hàng năm những khu rừng hợp lệ sẽ được chi trả 1 khoản tiền tương xứng. Rừng tre với diện tích khổng lồ của ông Dương khi đó được đánh giá phù hợp đăng ký trở thành bên “bán tín chỉ carbon”. Theo đo lường của chuyên gia, 1 mẫu tre tại đây có khả năng xử lý 1.6 tấn carbon. Nghe theo hướng dẫn và sự hỗ trợ của ngân hàng, tháng 7/2023 ông Dương đã đăng ký với chính phủ và thành công đưa 1.030 mẫu tre đạt tiêu chuẩn vào “sàn giao dịch carbon”. Theo giá carbon trên thị trường khi đó là 52,78 NDT/tấn (khoảng 170.000 đồng) nên hàng năm ông Dương có thể nhận thêm một khoản tiền là 86.000 NDT (khoảng 300 triệu đồng) nhờ bán không khí từ rừng tre. Dựa trên việc thế chấp “Tín chỉ carbon” này, ông Dương đã nhận được thêm một khoản vay 371.900 NDT (khoảng 1.2 tỷ đồng) từ ngân hàng để gây dựng lại rừng tre và đường xá bị hư hại. Câu chuyện ông Dương vay vốn bằng tín chỉ carbon đã lan truyền khắp An Cát khiến nhiều hộ trồng tre khác cũng muốn tham gia. Từ đây người dân huyện An Cát cũng dần tìm hiểu về khái niệm Tín chỉ carbon và cùng đồng lòng tham gia dự án đặc biệt này. Hành trình ĐỊNH GIÁ CARBON Và tầm nhìn tương lai Theo thống kê, tới tháng 12/2023, 51.000 hộ dân tại 167 thôn thuộc huyện An Cát đã quy hoạch thành công hơn 840.00 mẫu tre đạt chuẩn giúp xử lý 1,4 triệu tấn carbon. Rừng tre tại đây được mệnh danh là lá phổi xanh – “bể chứa carbon” quý giá. Trong đợt phát giá đầu tiên, người dân tại huyện An Cát đã nhận được số tiền lên tới 300 triệu NDT (khoảng 1000 tỷ đồng) cho việc bán “không khí” từ rừng tre. Có được thành quả này, bên cạnh sự đồng hành của người dân còn có sự cống hiến nhiều năm của nhóm nghiên cứu Đại học Nông Lâm Chiết Giang. Bắt đầu từ năm 2002, nhóm nghiên cứu của giáo sư Thi Dụng Quân (Đại học Nông Lâm Chiết Giang) đã bắt đầu nghiên cứu cách xác định một cách khoa học và nghiêm ngặt nguồn tài nguyên carbon có thể giao dịch của thực vật.
Con đường Tre Việt Nam – góp phần tiến tới Net Zero
Tiến sĩ Diệp Thị Mỹ Hạnh đã dành gần như cả thanh xuân của mình để nghiên cứu về cây tre. Ngoài những công trình nghiên cứu được thế giới công nhận, bà và các cộng sự sáng lập ra Làng tre Phú An (Bình Dương) để làm nơi nghiên cứu và bảo tồn nguồn Gen tre của Việt Nam. Đây được xem là trung tâm bảo tồn tre lớn nhất Đông Nam Á hiện nay. Sau khi đi vào hoạt động, Làng tre Phú An đã được trao giải thưởng Xích Đạo (Equatorial Prize) của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) về bảo vệ đa dạng sinh học, phục vụ cho phát triển cộng đồng và ứng phó với biến đổi khí hậu năm 2010; và danh hiệu vườn thực vật nói tiếng Pháp năm 2016 (Jardin Botanique Francophone). Nhân dịp kỷ niệm 25 năm ngày thành lập và phát triển Làng tre Phú An, Tạp chí khoahocphothong.vn Tạp Chí của Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố HCM có buổi trò chuyện với Tiến sĩ Diệp Thị Mỹ Hạnh – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Làng tre Phú An, nguyên giảng viên của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM. Tiến sĩ Diệp Thị Mỹ Hạnh – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Làng tre Phú An “Biến tam giác sắt thành tam giác xanh” Tiến sĩ Diệp Thị Mỹ Hạnh cho biết cơ duyên đưa Bà gắn chặt sự nghiệp và hoài bão cuộc đời với cây tre? Tiến sĩ Diệp Thị Mỹ Hạnh: Tôi làm việc về cây tre từ khi tôi về lại làng quê Phú An (Bình Dương), nơi tôi sinh ra trong chiến tranh, bom đạn, nơi có con sông quê đầy kỷ niệm của thời thơ ấu, với ý tưởng ‘Biến tam giác sắt thành tam giác xanh’. (PV: Vùng Tam giác sắt nằm trên địa phận xã Phú An, Trảng Bàng và Củ Chi. Với người dân Bến Cát, Bình Dương nói riêng và vùng tam giác sắt nói chung, đây là nơi có ý nghĩa lịch sử hết sức đặc biệt trong thời kỳ chiến tranh dành độc lập cho Tổ quốc. Di tích là một trong những chứng tích gắn liền với lịch sử oai hùng của quân và dân địa phương, tỉnh nhà và cả dân tộc Việt Nam). Trong sự nghiệp nghiên cứu, Bà được tham gia nhiều buổi thuyết trình về tre trên thế giới. Bà có thể kể về kỷ niệm đáng nhớ nhất khi nói về Tre Việt Nam với người nước ngoài? Bà Tiến sĩ Diệp Thị Mỹ Hạnh trả lời: Kỷ niệm đáng nhớ nhất khi sang Mexico năm 2018 dự Hội nghị Tre thế giới lần thứ 11, tôi đã thuyết trình về Bảo tồn đa dạng sinh học Tre Việt Nam (Viet Nam Bamboo Resources Conservation for Sustainable Development) và kêu gọi mọi người tham gia Chương trình con đường Tre Việt Nam. Cả Chủ tịch Hội tre thế giới và các thành viên tham gia Hội tre tại Mexico và trong nước, nhiều cấp lãnh đạo quan trọng của Việt Nam và bạn bè đều ký tên ủng hộ. Chủ tịch Hội tre thế giới và các thành viên tham gia Hội tre đều ký tên ủng hộ Chương trình con đường Tre Việt Nam. Nâng tầm giá trị của tre Tre được coi như biểu tượng của Việt Nam trong những năm tháng bảo vệ độc lập cũng như xây dựng phát triển đất nước trong thời bình. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng lấy cây tre làm biểu tượng ngoại giao của Việt Nam. Bà Diệp Thị Mỹ Hạnh chia sẻ về hình tượng cây tre có ý nghĩa như thế nào với cá nhân bà? Tìm hiểu thêm: Tiến sĩ Diệp Thị Mỹ Hạnh ” Minh Oan” Cho Cây tre Tre luôn tồn tại trong tâm thức mỗi người Việt Nam. Đối với cá nhân tôi, cây tre chính là biểu tượng của người Việt Nam, cứng rắn nhưng mềm dẻo, chịu đựng nhiều áp lực nhưng không bao giờ gục ngã. Cây tre chính là hình tượng của sự phát triển bền vững, thế hệ này nối tiếp thế hệ kia như ông bà chúng ta đã dạy: ‘tre già măng mọc’. Bà có liên tưởng gì giữa hình ảnh cây tre và hình ảnh phụ nữ Việt Nam? Đặc biệt hình ảnh cây tre và hình ảnh người phụ nữ Việt Nam có điểm tương đồng như là một: dẻo dai, chiu đựng cho dù phong ba bão táp. Trong văn thơ Việt Nam, tác phẩm nào viết về tre khiến bà ấn tượng nhất? Tác phẩm Cây Tre Việt Nam của nhà thơ Nguyễn Duy đã nói được rất nhiều phẩm chất của cây tre và con người Việt Nam như: ‘Thân gầy guộc, lá mong manh, Mà sao nên lũy, nên thành tre ơi ?’ Rồi: ‘Rễ siêng không ngại đất nghèo, Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù’. Hay ‘Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh, Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm’… Ý tưởng con đường tre được hình thành từ 2012 Quay trở lại với thực tế hiện nay, tre có giá trị kinh tế rất cao nhưng có vẻ chúng ta chưa khai thác hết tiềm năng, đặc biệt trong thủ công mỹ nghệ xuất khẩu. Bà Diệp Thị Mỹ Hạnh có lời khuyên gì cho các nhà hoạch định chính sách? Bà Diệp Thị Mỹ Hạnh trả lời: không dám có lời khuyên cho các nhà hoạch định chính sách vì những người đó rất giỏi, hiểu biết nhiều còn tôi chỉ là nhà giáo và người làm nghiên cứu khoa học. Dù vậy, tôi có thể đưa ra những nhận xét theo góc nhìn của tôi để các nhà hoạch định chính sách tham khảo và trong
