Công ty Bamboo King Vina ở xã Linh Sơn, Thanh Hóa đang biến phế phụ phẩm từ cây tre thành than sinh học biochar, tạo hướng đi mới để xử lý chất thải lâm nghiệp, phát triển nông nghiệp bền vững và khai thác thị trường tín chỉ carbon. Mỗi ngày, Bamboo King Vina (BKV) tại cụm công nghiệp Bãi Bùi chế biến khoảng 1.500 tấn tre và gỗ, đồng thời phát sinh 800-900 tấn cành, lá, rễ, vụn tre và mùn cưa. Trước đây, lượng phế thải này chủ yếu bị đốt bỏ hoặc để mục ngoài trời, gây phát thải khí CO2, CH4 và bụi ra môi trường. Từ giữa năm ngoái, BKV khởi động dự án “Than sinh học Bamboo King Vina”, đầu tư sáu dây chuyền nhiệt phân công nghệ cao. Công nghệ này đốt sinh khối trong môi trường yếm khí ở nhiệt độ 600-800 độ C, giữ carbon lại trong sản phẩm than sinh học. Khí sinh ra từ quá trình đốt được tận dụng để vận hành lò, giảm phát thải ra không khí. Dự án được đăng ký theo tiêu chuẩn chứng nhận carbon VCS (Verified Carbon Standard) của tổ chức Verra của Mỹ, mã số 5108, với chu kỳ tín chỉ từ tháng 6-2024 đến tháng 5-2031. Công suất thiết kế của công ty hiện đạt 47.520 tấn biochar/năm. Theo tính toán, mỗi năm nhà máy sẽ giảm và loại bỏ khoảng 112.000 tấn CO2e, tương đương gần 784.000 tấn trong 7 năm đầu, lượng giảm phát thải này sẽ được kiểm định quốc tế và quy đổi thành tín chỉ carbon (VCUs) thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Đây được xem là tín chỉ loại bỏ carbon (carbon removal) vốn đang có giá chào bán 100-300 đô la/tín chỉ. Biochar thu được từ phế thải tre sẽ được bón trực tiếp vào đất hoặc sử dụng gián tiếp thông qua chăn nuôi, ủ phân, xử lý bùn. Loại vật liệu giàu carbon này giúp cải thiện độ tơi xốp và khả năng giữ nước của đất, giảm nhu cầu phân bón hóa học và hạn chế phát thải nitrous oxide (tức N₂O, phát sinh chủ yếu từ quá trình sử dụng phân bón đạm và phân hữu cơ khi nitơ trong đất bị chuyển hóa) – một loại khí gây hiệu ứng nhà kính mạnh gấp hàng trăm lần CO2. Đồng thời, lượng carbon trong biochar có thể lưu giữ trong đất hàng trăm năm, biến đất canh tác thành một “bể chứa carbon” tự nhiên. Ngoài ý nghĩa về môi trường, dự án còn mang lại lợi ích kinh tế cho nông dân khi phế thải tre được tận dụng, trong khi than sinh học biochar quay lại đồng ruộng, giúp tăng năng suất cây trồng và giảm chi phí sản xuất. Ông Đỗ Quốc Thái, Chủ tịch HĐQT Bamboo King Vina cho biết hiện tại công ty muốn mở rộng quy mô lên 15 nhà máy trên khắp cả nước bằng các hình thức thu hút đầu tư, cung cấp thiết bị sản xuất than biochar, tư vấn quy trình đăng ký tín chỉ carbon. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tổng diện tích trồng tre cả nước hiện nay gần 1,6 triệu héc ta, phân bố nhiều tỉnh, thành trong nước. Thanh Hóa là địa phương có diện tích tre, luồng lớn của Việt Nam, hàng năm cung cấp hàng chục triệu cây tre, luồng cho thị trường. Nguồn:https://carboncredits.thesaigontimes.vn/phe-thai-cay-tre-thanh-than-sinh-hoc-mo-loi-moi-cho-tin-chi-carbon/
Cây “nồi đồng cối đá tắm nắng gội mưa” này trồng theo chuỗi giá trị, sẽ nhắm tới thị trường carbon ở tỉnh Đắk Lắk
Toàn cảnh Hội thảo “Thực trạng, tiềm năng và định hướng phát triển cây Tre gắn với chuỗi giá trị tại tỉnh Đắk Lắk”. Tỉnh Đắk Lắk được đánh giá có nhiều lợi thế để trồng tre thành ngành hàng xanh, vừa tạo sinh kế cho người dân vừa góp phần bảo vệ rừng và thích ứng biến đổi khí hậu. Nếu được quy hoạch bài bản theo chuỗi giá trị và gắn với thị trường tín chỉ carbon, cây tre được kỳ vọng sẽ mở ra hướng làm giàu mới ngay từ chính những cánh rừng tự nhiên của địa phương. Trồng tre ở tỉnh Đắk Lắk có tiềm năng lớn, nhưng “điểm nghẽn” vẫn nằm ở vùng nguyên liệu và chế biến sâu Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk, tre được đánh giá là loài cây sinh thái, thân thiện môi trường, có khả năng tái tạo nhanh và có thể thay thế nhiều vật liệu như nhựa, gỗ trong xây dựng và sản xuất hàng tiêu dùng. Việt Nam hiện có khoảng 216 loài tre thuộc 30 chi, trong đó nhiều loài có giá trị kinh tế cao. Trên thế giới, ngành công nghiệp tre hiện đạt tổng giá trị khoảng 70 tỷ USD, với kim ngạch xuất khẩu khoảng 6,5 tỷ USD, tập trung chủ yếu tại châu Á. Thị trường nhập khẩu chính là châu Âu, Mỹ và Nhật Bản. Đây được xem là dư địa lớn để Việt Nam nói chung và Đắk Lắk nói riêng phát triển tre theo hướng chế biến sâu, hướng đến xuất khẩu. Phát triển vùng nguyên liệu tập trung là hướng đi bền vững cho cây tre Đắk Lắk. Đây là lợi thế để tổ chức phát triển vùng nguyên liệu tre, nhất là tại các khu vực có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời, am hiểu địa hình, có thể tham gia quản lý và khai thác rừng bền vững. Dù có tiềm năng lớn, thực tế diện tích tre tại Đắk Lắk hiện mới khoảng 3.500 ha, trong đó chỉ khoảng 50 ha được trồng từ giống mới có năng suất, chất lượng cao, còn lại chủ yếu là tre rừng tự nhiên. Đáng chú ý, tỉnh Đắk Lắk hiện chưa có nhà máy chế biến chuyên sâu, hiện đại để phát triển các sản phẩm kỹ nghệ cao và hướng đến xuất khẩu. Đây được xem là “điểm nghẽn” khiến giá trị gia tăng của tre chưa được khai thác tương xứng. Đóng góp ý kiến tại hội thảo, ông Phan Văn Thắng, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Lâm sản ngoài gỗ, cho rằng cần có một nghị quyết chuyên đề phục vụ phát triển ngành tre. Theo ông Thắng, chính quyền đóng vai trò kiến tạo môi trường để kết nối doanh nghiệp với người sản xuất tre, đồng thời hỗ trợ người dân đào tạo nghề và phát triển sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, hướng đến kinh tế xanh và tăng thu nhập bền vững. Tỉnh Đắk Lắk trồng tre nhắm thị trường carbon, kỳ vọng mở hướng làm giàu bền vững Tại hội thảo, nhiều tham luận và ý kiến thảo luận tập trung vào định hướng phát triển cây tre theo chuỗi giá trị, ứng dụng khoa học kỹ thuật và xây dựng thương hiệu “tre Đắk Lắk”. Các giải pháp được đề xuất nhấn mạnh việc quy hoạch vùng nguyên liệu tre theo từng nhóm sản phẩm: tre lấy măng, tre phục vụ thủ công mỹ nghệ, tre cho công nghiệp giấy, tre cho xây dựng và nội thất… Bên cạnh đó, một hướng đi quan trọng được đánh giá là phát triển tre gắn với chứng chỉ rừng bền vững, tín chỉ carbon và thị trường quốc tế. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành giá trị thực tế, địa phương cần sớm quy hoạch vùng nguyên liệu bài bản, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp – hợp tác xã – nông dân, đẩy mạnh chế biến sâu và đặc biệt chú trọng xây dựng thương hiệu tre Đắk Lắk gắn với chứng chỉ rừng bền vững, thị trường carbon và định hướng xuất khẩu. Ông Đinh Văn Đang, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đắk Lắk, phát biểu tại hội thảo tiềm năng và định hướng phát triển cây tre. Phát biểu tại hội thảo, bà Đặng Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đắk Lắk nhấn mạnh, đây là bước khởi đầu quan trọng giúp địa phương nhìn nhận rõ tiềm năng, đồng thời xác định những “điểm nghẽn” cần tháo gỡ để từng bước xây dựng chuỗi giá trị cây tre theo hướng bền vững. “Việc phát triển cây tre không chỉ gắn với mục tiêu nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn mà còn góp phần bảo vệ môi trường, thích ứng biến đổi khí hậu; đặc biệt, thị trường tín chỉ carbon được xem là cơ hội mới để Đắk Lắk hình thành mô hình kinh tế xanh từ cây tre trong thời gian tới”, bà Đặng Thị Thủy khẳng định. Theo bà Đặng Thị Thủy, với lợi thế về tài nguyên rừng, nguồn lao động và điều kiện tự nhiên, cây tre được kỳ vọng sẽ trở thành một ngành hàng xanh mới của Đắk Lắk, góp phần tạo việc làm và nâng cao đời sống người dân. Nguồn:https://danviet.vn/cay-noi-dong-coi-da-tam-nang-goi-mua-nay-trong-theo-chuoi-gia-tri-se-nham-toi-thi-truong-carbon-o-tinh-dak-lak-d1400949.html
Đà Nẵng muốn xóa 90% rừng keo bằng các cây phù hợp trong 15 năm tới
Người dân vùng cao TP Đà Nẵng thu hoạch cây keo lai – Ảnh: B.D. Trước việc nhiều hệ lụy liên quan đến môi trường từ cây keo lai, UBND TP Đà Nẵng đặt quyết tâm thay thế 90% diện tích rừng keo chuyển qua trồng các loại cây khác phù hợp hơn từ năm 2040. Ngày 10-4, UBND TP Đà Nẵng vừa ban hành kế hoạch triển khai đề án bảo vệ và phát triển rừng ven biển nhằm ứng phó biến đổi khí hậu, thúc đẩy tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030. Đà Nẵng đặt mục tiêu quản lý, bảo vệ hiệu quả hơn 11.800ha rừng tự nhiên và rừng trồng ven biển hiện có. Trong tổng diện tích này có hơn 6.500ha rừng đặc dụng, hơn 4.000ha rừng phòng hộ và khoảng 1.200ha rừng sản xuất. Đồng thời khoảng 300ha rừng trồng mới sẽ được chăm sóc, quản lý chặt chẽ. Đà Nẵng cũng đề ra việc trồng mới 150ha rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát. Trong đó 110ha được trồng lại trên diện tích bị thiệt hại do thiên tai năm 2020, phần còn lại 40ha trồng trên đất trống tại một số khu vực ven biển. Đáng chú ý, thành phố Đà Nẵng định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng rừng theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế và khả năng phòng hộ. Trước mắt, giai đoạn 2026 – 2030 sẽ triển khai trồng thay thế khoảng 100ha rừng keo bằng các loài cây phù hợp hơn. Về lâu dài, đến năm 2040 khoảng 90% diện tích trồng keo hiện có sẽ được thay thế bằng các loài cây vừa có giá trị kinh tế, vừa hạn chế nguy cơ cháy rừng và tăng khả năng bảo vệ môi trường. Hiện nay keo lai chiếm chủ yếu trong diện tích rừng trồng của TP Đà Nẵng – Ảnh: B.D. Ngoài ra thành phố dự kiến trồng 50ha rừng ngập mặn, trong đó phục hồi 42ha diện tích bị suy thoái và trồng mới 8ha tại các khu vực đủ điều kiện. Đồng thời hỗ trợ 200.000 cây giống để trồng phân tán. Tổng kinh phí thực hiện kế hoạch giai đoạn 2026 – 2030 hơn 100 tỉ đồng; tập trung cho các hoạt động quản lý, bảo vệ rừng, trồng rừng phòng hộ, rừng ngập mặn và chuyển đổi cây trồng. Keo lai dày đặc dẫn đến nhiều hệ lụy Cây keo trồng dày đặc từ vùng đồng bằng tới núi cao nhưng quy trình chăm sóc, thu hoạch chỉ diễn ra trong 4-5 năm khiến keo không phát huy được giá trị môi trường. Cây keo bị thu hoạch quá sớm là một trong các nguyên nhân của hiện tượng sạt lở đất gây hậu quả lớn ở các xã vùng cao. Tại các cuộc làm việc của HĐND TP Đà Nẵng, Mặt trận Tổ quốc cùng các sở ngành, câu chuyện quy hoạch và phát triển cây keo lai làm sao hài hòa đa mục đích được đưa ra bàn thảo, phân tích. Nguồn:https://tuoitre.vn/da-nang-muon-xoa-90-rung-keo-bang-cac-cay-phu-hop-trong-15-nam-toi-20260410104057758.htm
Ra mắt Hợp tác xã sản xuất nông lâm nghiệp công nghệ cao Ngọc Thiện
Lãnh đạo Liên minh Hợp tác xã tỉnh tặng hoa chúc mừng Hợp tác xã. ảnh: Mai Toan BẮC NINH – Ngày 26/3, Hợp tác xã sản xuất nông lâm nghiệp công nghệ cao Ngọc Thiện, thôn Cầu Xi, xã Ngọc Thiện tổ chức lễ ra mắt. Dự buổi lễ có lãnh đạo Liên minh Hợp tác xã tỉnh, đại diện chính quyền địa phương cùng đông đảo thành viên. Bám sát chủ trương của tỉnh về phát triển kinh tế tập thể, Hợp tác xã thành lập quy tụ nhiều thành viên tâm huyết với lĩnh vực nông, lâm nghiệp theo hướng công nghệ cao. Hợp tác xã liên kết với doanh nghiệp với sản phẩm chủ lực là măng lục trúc và cây đàn hương (cây lâm nghiệp thân gỗ quý hiếm cho khai thác lá, tinh dầu và gỗ). Theo đó, đơn vị tập trung xây dựng vườn ươm, mở rộng vùng nguyên liệu, đầu tư nhà máy và dây chuyền chế biến sâu, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Hiện Hợp tác xã sản xuất nông lâm nghiệp công nghệ cao Ngọc Thiện có khoảng 300 ha măng lục trúc; bước đầu triển khai liên kết với Công ty cổ phần SmartGap Holding (Hà Nội) ươm giống và trồng cây đàn hương tại tỉnh Bắc Ninh và một số tỉnh, thành phố trong cả nước. Lãnh đạo Liên minh Hợp tác xã tỉnh thăm vườn ươm măng lục trúc của hợp tác xã. ảnh: Mai Toan Theo Liên minh Hợp tác xã tỉnh, đến nay toàn tỉnh có 2.113 hợp tác xã, trong đó lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 68,76%; còn lại là phi nông nghiệp. Việc thành lập thêm hợp tác xã đa ngành lĩnh vực nông, lâm nghiệp theo hướng công nghệ cao phù hợp với định hướng phát triển của tỉnh, khẳng định vai trò của kinh tế tập thể trong xây dựng chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Qua đó, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội địa phương và hướng đến xuất khẩu bền vững. Nguồn:https://www.baobacninhtv.vn/ra-mat-hop-tac-xa-san-xuat-nong-lam-nghiep-cong-nghe-cao-ngoc-thien-postid441988.bbg
Hàng không Việt có thể phải chi nửa tỷ USD mua tín chỉ carbon 10 năm tới
Trong 10 năm tới khi tham gia cơ chế giảm phát thải toàn cầu, hàng không Việt Nam có thể phải chi tới gần 500 triệu USD để mua tín chỉ carbon. Tại cuộc họp kỹ thuật về CORSIA do Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tổ chức ngày 27/3, các chuyên gia cho biết Việt Nam đã đăng ký tham gia giai đoạn tự nguyện đầu tiên của cơ chế này từ năm 2026. Đây được xem là bước đi cần thiết để ngành hàng không trong nước thích ứng với các tiêu chuẩn môi trường ngày càng chặt chẽ trên thế giới. Theo bà Đặng Hồng Hạnh, Trưởng nhóm chuyên gia thị trường carbon (PoA Carbon), tổng nhu cầu bù trừ phát thải của ngành hàng không Việt Nam giai đoạn 2026-2035 ước khoảng 10,7-15,4 triệu tín chỉ carbon. Với các kịch bản giá tín chỉ carbon từ vài chục đến gần 100 USD mỗi đơn vị, chi phí tuân thủ có thể lên tới 345-496 triệu USD. Đây được xem là một trong những khoản chi mới cao nhất mà ngành hàng không phải đối mặt trong thập kỷ tới. “Đây là áp lực tài chính rất lớn với các hãng hàng không trong giai đoạn phục hồi”, bà Hạnh nói. Chi phí gia tăng này nhiều khả năng sẽ được chuyển một phần sang người tiêu dùng. Theo bà Đặng Hồng Hạnh, giá vé máy bay có thể tăng thêm 0,7-2,2 USD mỗi hành khách trong giai đoạn đầu. Trong khi đó, bà Nguyễn Lê Khánh Linh, chuyên gia kỹ thuật (PoA Carbon), cho biết mức tăng có thể lên tới 5 USD mỗi vé ở các giai đoạn sau, tùy theo diễn biến thị trường carbon. Dù mức tăng không lớn trên mỗi vé, các chuyên gia cho rằng điều này có thể ảnh hưởng đến nhóm khách nhạy cảm về giá, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh du lịch khu vực ngày càng gay gắt. Với kế hoạch mở rộng mạng bay quốc tế, Vietnam Airlines ước tính cần khoảng 478.000 tín chỉ carbon năm nay. Số tín chỉ này sẽ tăng lên 1,5 triệu vào năm 2035 khi mạng đường bay quốc tế tăng gấp đôi hiện nay. Để đáp ứng yêu cầu, hãng lên phương án mua tín chỉ trên thị trường quốc tế, hoặc tự tạo tín chỉ bằng cách đầu tư trực tiếp vào các dự án giảm phát thải. Sân bay Nội Bài. Ảnh: Ngọc Thành CORSIA (Carbon Offsetting and Reduction Scheme for International Aviation) là cơ chế giảm nhẹ và bù trừ phát thải khí nhà kính với hàng không quốc tế do Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO) thiết lập, triển khai từ năm 2021. Chương trình yêu cầu các hãng hàng không bù trừ phần phát thải CO2 vượt mức cơ sở năm 2019 thông qua việc mua tín chỉ carbon trên thị trường quốc tế. CORSIA được triển khai theo nhiều giai đoạn, trong đó giai đoạn 2024-2026 mang tính tự nguyện và từ 2027 trở đi áp dụng bắt buộc với các quốc gia có hoạt động hàng không quốc tế, gồm Việt Nam. Cùng với mua tín chỉ carbon, các hãng bay cũng tính tới giải pháp kỹ thuật để giảm phát thải. Trong đó, sử dụng nhiên liệu hàng không bền vững (SAF) có thể giảm tới 80% lượng phát thải trong vòng đời nhiên liệu. Tuy nhiên, theo bà Đặng Hồng Hạnh, SAF hiện có giá cao gấp 3-4 lần nhiên liệu truyền thống và nguồn cung toàn cầu hạn chế, khiến việc triển khai trên diện rộng chưa khả thi. Do đó, trong những năm đầu, việc mua tín chỉ carbon vẫn là giải pháp chính để các hãng đáp ứng yêu cầu của CORSIA. Ngoài chi phí và công nghệ, khung pháp lý trong nước cũng được xem là điểm nghẽn lớn. Theo bà Hạnh, Việt Nam hiện chưa hoàn thiện đầy đủ quy định về chuyển giao tín chỉ carbon quốc tế, quy trình cấp thư chấp thuận (LoA) và cơ chế điều chỉnh tương ứng. Điều này khiến doanh nghiệp có rủi ro không được quốc tế công nhận tín chỉ, dẫn đến nguy cơ phải mua lại hoặc chịu chế tài. Nguồn: https://vnexpress.net/hang-khong-viet-co-the-phai-chi-nua-ty-usd-mua-tin-chi-carbon-10-nam-toi-5055536.html
Tín chỉ carbon là gì?
Tín chỉ carbon (carbon credit) là chứng nhận quyền phát thải khí CO2 hoặc khí nhà kính khác quy đổi sang CO2. Trong đó, bên bán là bên có khả năng giảm hoặc tăng hấp thụ carbon so với mức tham chiếu. Mỗi tín chỉ carbon tương ứng với một tấn khí CO2 hoặc lượng khí nhà kính quy đổi tương đương sang CO2 đã được ngăn chặn hoặc loại bỏ, đơn vị là CO2tđ trong tiếng Việt, hoặc CO2eq trong tiếng Anh. Lưu ý, để tính được tín chỉ carbon thì cần có mức tham chiếu. Đây là lượng phát thải khí nhà kính ước tính sẽ xảy ra nếu không có hoạt động giảm phát thải hoặc hấp thụ carbon nào được thực hiện, tức “kịch bản thông thường”. Ví dụ, mức tham chiếu của một dự án trồng rừng có thể là lượng CO2 sẽ được thải ra nếu khu đất đó không được trồng rừng mà vẫn tiếp tục bị chặt phá hoặc sử dụng cho các mục đích khác gây ra phát thải. Lượng CO2 mà cây cối mới trồng có thể hấp thụ so với kịch bản này sẽ được coi là lượng tăng hấp thụ carbon so với mức tham chiếu. Phần tăng này được bao nhiêu tấn thì quy đổi ra bao nhiêu tín chỉ carbon. All Posts Blog Cây giống tre khổng lồ Dược liệu Núi Cấm Netzero Back Gừng gió Núi Cấm Back Tre khổng lồ Núi Cấm Tre Tầm Vông đá Núi Cấm Khí nhà kính là gì? 26/03/2026-Netzero Đồ họa: Dỹ Tùng Khí nhà kính (Greenhouse Gases – GHG) là các loại khí tồn tại trong bầu khí quyển, có khả năng hấp thụ và phản xạ tia bức xạ nhiệt. Cụ thể, các… Đọc thêm Đồ họa: Dỹ Tùng Vì sao có tín chỉ carbon? Tín chỉ carbon bắt nguồn từ Nghị định thư Kyoto (Kyoto Protocol) năm 1997, một hiệp định quốc tế nhằm kiểm soát và giảm thiểu sự phát thải khí nhà kính trên toàn cầu. Theo đó, các quốc gia tham gia cam kết sẽ giảm lượng phát thải khí nhà kính, đồng thời được phép trao đổi quyền phát thải carbon với nhau trên thị trường quốc tế thông qua tín chỉ carbon. Từ đó, thị trường carbon toàn cầu, nơi các công ty hoặc quốc gia phát thải nhiều hơn mức quy định có thể mua tín chỉ từ các tổ chức, dự án hoặc quốc gia có lượng phát thải thấp hơn hoặc hấp thụ carbon như một trong các cách thức để đạt được các mục tiêu giảm phát thải. Ngoài ra, để cùng chung tay chống biến đổi khí hậu, ngày càng nhiều công ty tuyên bố về mục tiêu mức phát thải ròng bằng không, tức Net Zero. Theo Net Zero Tracker, một cơ sở dữ liệu do các học giả và tổ chức phi lợi nhuận biên soạn, hơn một phần ba trong số 2.000 công ty đại chúng lớn nhất thế giới đã tự công bố mục tiêu phát thải ròng bằng không của riêng mình. Các mục tiêu này thường bao gồm các cam kết công khai nhằm giảm lượng khí nhà kính bằng cách sửa đổi quy trình, cải tiến sản phẩm, chuyển đổi nhiên liệu, dùng năng lượng tái tạo, đầu tư vào các dự án loại bỏ carbon. Tuy nhiên, một số ngành đặc thù không thể hoàn toàn loại bỏ được hoàn toàn phát thải. Khi ấy, doanh nghiệp cần mua tín chỉ carbon để bù trừ phần cam kết giảm phát thải còn thiếu. Ý nghĩa của tín chỉ carbon Tín chỉ carbon ra đời nhằm khuyến khích các doanh nghiệp và tổ chức giảm lượng phát thải khí nhà kính bằng cách đầu tư vào các công nghệ và dự án xanh. Điều này giúp giảm bớt tác động của biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Việc trao đổi và mua bán tín chỉ carbon còn tạo ra một thị trường mới, thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp xanh như năng lượng tái tạo, trồng rừng, và các dự án tiết kiệm năng lượng. Điều này không chỉ giúp giảm phát thải mà còn tạo ra cơ hội kinh tế mới. Ở nhiều quốc gia, các doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định về lượng phát thải khí nhà kính. Tín chỉ carbon giúp các doanh nghiệp này đáp ứng các yêu cầu pháp lý, tránh được các khoản phạt và tăng cường hình ảnh thương hiệu xanh. Ngoài ra, tín chỉ carbon thúc đẩy tính minh bạch trong việc đo lường và báo cáo lượng phát thải khí nhà kính, từ đó giúp cộng đồng và chính phủ có cái nhìn rõ ràng hơn về những nỗ lực chống biến đổi khí hậu. All Posts Blog Cây giống tre khổng lồ Dược liệu Núi Cấm Netzero Back Gừng gió Núi Cấm Back Tre khổng lồ Núi Cấm Tre Tầm Vông đá Núi Cấm Làm thế nào để được cấp Tín Chỉ Carbon? 24/03/2026-Netzero Tín chỉ carbon có thể được cấp bởi cơ chế của Liên Hợp Quốc, cơ chế các quốc gia – khu vực hoặc các tiêu tiêu chuẩn carbon độc lập. Ai cấp tín chỉ carbon?… Đọc thêm All Tre khổng lồ Cây giống trà Cây Giống Giâm Cành Dendrocalamus Asper “Đá” Núi Cấm 395.000 ₫ – 16.500.000 ₫Price range: 395.000 ₫ through 16.500.000 ₫ Tre Khổng Lồ Núi Cấm được người dân trồng và khai thác từ năm 1973, Chính vì vậy cây giống tre khổng lồ được chiết… Tìm hiểu thêm Liên hệ với Viet Star Bamboo Hotline: 0986 340 077 – 0984 810 101 Email:Info@vietstarbamboo.com Địa chỉ:Lô 05, đường lên Núi Cấm, Ấp Thiên Tuế, Xã Núi Cấm, Tỉnh An Giang, Việt Nam. Facebook-f Facebook Youtube Tiktok
Trà Sư và Danh Trà Mã Dọ Sông Cầu – Phú Yên
Trà mã dọ chất lượng hơn trà Đài Loan, Nhật Bản giá 60tr/kg. Trà sư Ngô Thị Thanh Tâm uống và chia sẻ
Tre trong dòng chảy văn hóa Việt – đồng hành qua thiên tai
Không chỉ là bóng mát hiền lành bên ngõ, tre còn là lá chắn, là mái che, là bè cứu hộ, là niềm tin để con người nương tựa mỗi khi bão gió, cuồng phong. Trong ký ức dân tộc, có một loài cây mảnh mai nhưng bền bỉ, giản dị nhưng kiêu hãnh, lặng lẽ mà gắn bó máu thịt: Cây tre. Từ thuở làng quê còn vẹn nguyên bóng dáng cổng tre, từ những ngày kháng chiến gian lao đến hôm nay, khi đất nước đã bước vào quỹ đạo hiện đại hóa, tre vẫn hiện diện như một phần hồn cốt Việt Nam. “Tre không chỉ là chất liệu của đời sống mà còn là biểu tượng của văn hóa. Qua bao biến thiên, tre nhắc nhở chúng ta về sức mạnh cộng đồng, về sự mềm dẻo trong ứng xử, về khát vọng vươn lên. Thế kỷ XXI nhiều thử thách: đô thị hóa, biến đổi khí hậu, hội nhập toàn cầu, nhưng, chính trong bối cảnh ấy, tre càng khẳng định sức sống trường tồn.” Ở một đất nước khí hậu nhiệt đới gió mùa, thiên tai thường trực, người Việt từ ngàn đời đã học cách tồn tại cùng bão tố, mưa lũ. Trong hành trình sống ấy, có những người bạn đồng hành âm thầm mà một khi ứng vào hoàn cảnh thực tế, ta mới thấu tỏ giá trị. Tre chính là một trong những người bạn như vậy. Không chỉ là bóng mát hiền lành bên ngõ nhỏ, tre còn là lá chắn, là mái che, là các vật dụng trong đời sống, là chiếc bè cứu hộ, là niềm tin để con người nương tựa mỗi khi bão gió, cuồng phong. “Gió thổi thì tre nghiêng, gió quật thì tre rạp, nhưng hiếm khi tre gãy. Đó là một sự thích ứng tự nhiên, cũng là một triết lý sống: cái mềm dẻo, linh hoạt là cái có thể tồn tại bền bỉ trước khắc nghiệt.” Trong ký ức của nhiều thế hệ, hình ảnh lũy tre làng luôn gắn liền với sự bình yên. Nói đến làng quê Việt Nam, không thể không nhắc đến lũy tre làng. Lũy tre có tự bao giờ không ai nhớ, chỉ biết mỗi con người sinh ra lớn lên đã thấy hình ảnh lũy tre. Lũy tre án ngữ ven sông, bên đường cái, bãi đất trống, đầu làng. Thân gầy mà gan góc, rễ đan vào nhau, ăn vào đất, kết thành một mạng lưới bền bỉ như mạch máu quê hương. Nơi nào có tre là nơi ấy có bóng mát. Nơi nào có tre là nơi đó đất ít sạt, bờ ít lở. Khi bão giông gió nổi, tre dựng thành bức tường xanh ngăn gió, giữ bình yên cho mỗi ngôi nhà. Tre không chỉ là cây, tre là “người lính già” canh xóm nhỏ. Lũy tre khổng lồ ở làng quê Gió thổi thì tre nghiêng, gió quật thì tre rạp, nhưng hiếm khi tre gãy. Đó là một sự thích ứng tự nhiên, cũng là một triết lý sống: cái mềm dẻo, linh hoạt là cái có thể tồn tại bền bỉ trước khắc nghiệt. Trong ký ức của nhiều thế hệ, hình ảnh lũy tre làng luôn gắn liền với sự bình yên. Nói đến làng quê Việt Nam, không thể không nhắc đến lũy tre làng. Lũy tre có tự bao giờ không ai nhớ, chỉ biết mỗi con người sinh ra lớn lên đã thấy hình ảnh lũy tre. Lũy tre án ngữ ven sông, bên đường cái, bãi đất trống, đầu làng. Thân gầy mà gan góc, rễ đan vào nhau, ăn vào đất, kết thành một mạng lưới bền bỉ như mạch máu quê hương. Nơi nào có tre là nơi ấy có bóng mát. Nơi nào có tre là nơi đó đất ít sạt, bờ ít lở. Khi bão giông gió nổi, tre dựng thành bức tường xanh ngăn gió, giữ bình yên cho mỗi ngôi nhà. Tre không chỉ là cây, tre là “người lính già” canh xóm nhỏ. Những khi nước sông dâng, nghe tiếng nước táp bờ ì oạp, biết là từng búi rễ đang chống chọi với sức nước để giữ đất, những đêm bão về, nghe tiếng tre vặn mình, biết bức tường thành xanh đang dang tay che chắn gió cho xóm làng. Cũng trong những ngày mưa gió ấy, ngôi nhà tranh tre mộc mạc là nơi che trú, là giấc mơ an lành của bao người nông dân Việt. Tre đứng thẳng làm cột, nằm ngang làm kèo, chẻ nhỏ làm nan, vót mảnh làm đòn tay. Mái rạ lợp trên rui mè tre, phên tre nứa, vách cũng là khung tre được đan thành tấm với những ô vuông hoặc chữ nhật để đắp nguyên liệu bùn và rơm vào, tạo nên không gian ấm cúng. Trong nắng lửa mưa giông, ngôi nhà tre vẫn vững vàng. Giữa bao biến động, ngôi nhà tre là nơi trú ẩn của bình yên, của khói bếp, của tiếng trẻ thơ, của tiếng ru tựa gió đồng. Tre không chỉ dựng nên mái nhà mà còn dựng nên mái ấm quê hương – nơi con người trở về, tìm lại chỗ dựa tinh thần sau những chênh chao đời sống. Một góc trong ngôi nhà tre trăm tuổi ở Quảng Nam. Ảnh: Trương Điện Thắng. Người bạn tri kỷ mang cái tên giản dị – Tre cũng là một “chiến binh” quả cảm trên mặt trận hộ đê chống lũ. Từ xa xưa, người Việt đã biết dựa vào tre để giữ đê, giữ đất. Trước sức nước ngông cuồng đe dọa sự an toàn của con đê, người dân quê đã biết dùng những cọc tre đóng sâu xuống chân đê làm trụ làm khung để neo lớp bạt, lớp lưới định vị cho các bao cát, các tải đá hộc tầng
Để vựa măng Bát Độ phát triển bền vững và gia tăng giá trị
LÀO CAI – Cây tre Bát Độ phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng, và hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy, Lào Cai có kế hoạch mở rộng vùng nguyên liệu lên 10.000ha và chế biến sâu. Hơn 2 thập kỷ trở về trước, nhiều vùng đồi núi ở các tỉnh Yên Bái (cũ) và Lào Cai (cũ) chủ yếu là đất trống, đồi núi trọc, hoặc trồng các loại cây ngắn ngày hiệu quả thấp như ngô, sắn. Đời sống người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số gặp muôn vàn khó khăn. Cây tre Bát Độ, từ một giống cây xa lạ đã từng bước trở thành “cây xóa đói giảm nghèo” chủ lực, biến những vùng đồi đất dốc thành một vùng măng nguyên liệu bạt ngàn. Với diện tích lên đến hơn 7.250 ha, tre măng Bát Độ đang thực sự thay đổi bộ mặt kinh tế – xã hội của nhiều địa phương. Loài tre đặc biệt thích nghi với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng ở nhiều vùng đất của Lào Cai. Đặc biệt, loại cây trồng này không chỉ dễ trồng, dễ chăm sóc mà còn có khả năng sinh trưởng mạnh, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ đất, giữ nước và chống sạt lở… Với những lợi ích kinh tế đã được khẳng định trong nhiều năm qua, Lào Cai đã quy hoạch các vùng nguyên liệu tập trung. Đến nay, bản đồ măng tre đã được định hình rõ nét. Một số địa phương có diện tích lớn như: Quy Mông 2.270ha Hưng Khánh 1.896ha Lương Thịnh 635ha Đông Cuông 364ha Yên Thành 195 ha Mường Lai với 260ha Văn Bàn với 536 ha Qua đó, góp phần tạo nên một vùng nguyên liệu rộng lớn, liên hoàn, tạo điều kiện lý tưởng cho việc tổ chức sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Trong tổng số hơn 7.200 ha, có khoảng 5.000 ha đang trong thời kỳ thu hoạch ổn định. Với năng suất bình quân đạt từ 20-25 tấn/ha/năm, mỗi ha tre Bát Độ mang về cho người nông dân thu nhập bình quân 70 – 80 triệu đồng/ha/năm. Theo ông Vũ Minh Phúc, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lào Cai, trên địa bàn tỉnh đã hình thành một mạng lưới thu mua, chế biến khá hoàn chỉnh. Có 3 doanh nghiệp lớn đóng vai trò chủ chốt là Công ty Cổ phần Yên Thành, Công ty TNHH Vạn Đạt và Công ty Yamazaki. Cùng với đó, còn có nhiều doanh nghiệp và hơn 10 Hợp tác xã (HTX) như HTX nông lâm nghiệp Thủy Sơn, HTX măng Dần Thàng, HTX măng Nậm Xé, HTX Măng tre Bát độ Hưng Khánh… đang tích cực tham gia vào chuỗi giá trị, tổ chức thu mua và chế biến sơ cấp. Các sản phẩm chính từ măng Bát Độ là măng lên men, măng khô và măng chua. Những sản phẩm này đã tìm được đường xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Nhật Bản và Đài Loan (Trung Quốc). Đây là một tín hiệu đáng mừng, khẳng định chất lượng măng Bát Độ của tỉnh Lào Cai hoàn toàn có thể chinh phục và mở rộng thị trường quốc tế. Sản phẩm măng Bát Độ được các doanh nghiệp sơ chế và xuất khẩu thô sang Nhật Bản. Ảnh: Thanh Tiến. Phần lớn sản lượng măng Bát Độ của tỉnh (chiếm hơn 90%) vẫn đang được bán thô hoặc qua sơ chế cực kỳ đơn giản (như luộc, sấy thủ công). Điều này giống như đang “bán lúa non”, chưa phát huy hết giá trị thu nhập có thể mang lại. Giá trị gia tăng lớn nhất của cây măng không nằm ở củ măng tươi, mà nằm ở các sản phẩm chế biến tinh, sẵn sàng lên bàn ăn của người tiêu dùng toàn cầu. Mở rộng diện tích lên 10.000ha và hướng tới chế biến sâu. Ông Vũ Minh Phúc cho biết thêm, tiềm năng của ngành hàng măng Bát Độ nói riêng và các sản phẩm măng khác của Lào Cai là không thể phủ nhận. Bên cạnh những thuận lợi về điều kiện tự nhiên, hiệu quả kinh tế cao và chính sách hỗ trợ của tỉnh, việc có sẵn thị trường xuất khẩu như Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc) là tấm vé bảo hành cho chất lượng. Lào Cai đang phấn đấu mở rộng diện tích diện tích và nâng sản lượng măng thương phẩm. Ảnh: Thanh Tiến. Tuy nhiên, để phát triển bền vững và nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích vẫn gặp một số trở ngại. Thứ nhất, là khâu vận chuyển. Măng tươi rất nặng, dễ hỏng và cần được xử lý nhanh. Việc vận chuyển măng từ các vùng trồng, vốn là đồi núi đến các cơ sở chế biến tập trung gặp rất nhiều khó khăn về hạ tầng giao thông, đẩy chi phí logistics lên cao và làm giảm chất lượng nguyên liệu. Thứ hai, về công nghệ chế biến, các cơ sở hiện có, bao gồm cả các HTX, phần lớn vẫn còn nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, chủ yếu là sơ chế. Trên địa bàn tỉnh vẫn thiếu những nhà máy quy mô lớn với công nghệ hiện đại để sản xuất các mặt hàng giá trị cao như măng đóng hộp, măng sấy, măng ăn liền… Thứ ba, sự liên kết “4 nhà” (Nhà nông – Nhà nước – Nhà khoa học – Doanh nghiệp) tuy đã hình thành nhưng chưa thực sự chặt chẽ. Nông dân chưa hoàn toàn yên tâm sản xuất theo quy trình, còn doanh nghiệp cũng gặp khó trong việc cạnh tranh thu mua nguyên liệu. Để biến tiềm năng vùng nguyên liệu măng tre rộng lớn thành tài sản có giá trị lớn hơn, góp phần nân cao thu nhập trên
Mùi nếp trong trà Phổ Nhĩ Nếp là từ đâu mà ra?
Có lẽ các bạn trà hữu đã từng uống món trà phổ nhĩ (sống/chín) thơm mùi nếp, vậy mùi nếp đó có từ đâu? Đó là mùi của một loại lá mang tên Trà Tiên Núi Cấm – Thiên Cấm Sơn với tên khoa học Semnostachya menglaensis H.P.Tsui. Trà Tiên có nhiều thành phần mùi thơm và các Axit amin có lợi cho cơ thể người, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, thường được người dân tộc thiểu số Vân Nam trồng quanh nhà để làm thuốc giải cảm, khi bị cảm sốt đau đầu, họ sẽ ngắt lá nấu cùng trà để uống. Thường thì, sẽ có 2 cách tạo mùi nếp cho trà phổ nhĩ. Cách 1 là đối với phổ nhĩ sống, họ nghiền lá Trà Tiên Núi Cấm ra rồi trộn cùng trà theo tỷ lệ nhất định và ép thành viên trà phổ nhĩ sống nhỏ. Sau này, cùng với sự phát triển của kỹ thuật gia công, người ta nghĩ ra cách dựa vào đặc tính hút mùi của lá trà, dùng kỹ thuật hấp bằng cách nấu lá Trà Tiên Núi Cấm ở tầng dưới, để trà bên trên rồi hấp khiến cho mùi nếp ám vào trà, cho ra thành phẩm là loại trà phổ nhĩ chín mang mùi Trà Tiên Núi Cấm. Chúng ta có thể gặp loại trà này ở dạng viên, cục hay trà hóa thạch















