Người dân vùng cao TP Đà Nẵng thu hoạch cây keo lai – Ảnh: B.D. Trước việc nhiều hệ lụy liên quan đến môi trường từ cây keo lai, UBND TP Đà Nẵng đặt quyết tâm thay thế 90% diện tích rừng keo chuyển qua trồng các loại cây khác phù hợp hơn từ năm 2040. Ngày 10-4, UBND TP Đà Nẵng vừa ban hành kế hoạch triển khai đề án bảo vệ và phát triển rừng ven biển nhằm ứng phó biến đổi khí hậu, thúc đẩy tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030. Đà Nẵng đặt mục tiêu quản lý, bảo vệ hiệu quả hơn 11.800ha rừng tự nhiên và rừng trồng ven biển hiện có. Trong tổng diện tích này có hơn 6.500ha rừng đặc dụng, hơn 4.000ha rừng phòng hộ và khoảng 1.200ha rừng sản xuất. Đồng thời khoảng 300ha rừng trồng mới sẽ được chăm sóc, quản lý chặt chẽ. Đà Nẵng cũng đề ra việc trồng mới 150ha rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát. Trong đó 110ha được trồng lại trên diện tích bị thiệt hại do thiên tai năm 2020, phần còn lại 40ha trồng trên đất trống tại một số khu vực ven biển. Đáng chú ý, thành phố Đà Nẵng định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng rừng theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế và khả năng phòng hộ. Trước mắt, giai đoạn 2026 – 2030 sẽ triển khai trồng thay thế khoảng 100ha rừng keo bằng các loài cây phù hợp hơn. Về lâu dài, đến năm 2040 khoảng 90% diện tích trồng keo hiện có sẽ được thay thế bằng các loài cây vừa có giá trị kinh tế, vừa hạn chế nguy cơ cháy rừng và tăng khả năng bảo vệ môi trường. Hiện nay keo lai chiếm chủ yếu trong diện tích rừng trồng của TP Đà Nẵng – Ảnh: B.D. Ngoài ra thành phố dự kiến trồng 50ha rừng ngập mặn, trong đó phục hồi 42ha diện tích bị suy thoái và trồng mới 8ha tại các khu vực đủ điều kiện. Đồng thời hỗ trợ 200.000 cây giống để trồng phân tán. Tổng kinh phí thực hiện kế hoạch giai đoạn 2026 – 2030 hơn 100 tỉ đồng; tập trung cho các hoạt động quản lý, bảo vệ rừng, trồng rừng phòng hộ, rừng ngập mặn và chuyển đổi cây trồng. Keo lai dày đặc dẫn đến nhiều hệ lụy Cây keo trồng dày đặc từ vùng đồng bằng tới núi cao nhưng quy trình chăm sóc, thu hoạch chỉ diễn ra trong 4-5 năm khiến keo không phát huy được giá trị môi trường. Cây keo bị thu hoạch quá sớm là một trong các nguyên nhân của hiện tượng sạt lở đất gây hậu quả lớn ở các xã vùng cao. Tại các cuộc làm việc của HĐND TP Đà Nẵng, Mặt trận Tổ quốc cùng các sở ngành, câu chuyện quy hoạch và phát triển cây keo lai làm sao hài hòa đa mục đích được đưa ra bàn thảo, phân tích. Nguồn:https://tuoitre.vn/da-nang-muon-xoa-90-rung-keo-bang-cac-cay-phu-hop-trong-15-nam-toi-20260410104057758.htm
Ra mắt Hợp tác xã sản xuất nông lâm nghiệp công nghệ cao Ngọc Thiện
Lãnh đạo Liên minh Hợp tác xã tỉnh tặng hoa chúc mừng Hợp tác xã. ảnh: Mai Toan BẮC NINH – Ngày 26/3, Hợp tác xã sản xuất nông lâm nghiệp công nghệ cao Ngọc Thiện, thôn Cầu Xi, xã Ngọc Thiện tổ chức lễ ra mắt. Dự buổi lễ có lãnh đạo Liên minh Hợp tác xã tỉnh, đại diện chính quyền địa phương cùng đông đảo thành viên. Bám sát chủ trương của tỉnh về phát triển kinh tế tập thể, Hợp tác xã thành lập quy tụ nhiều thành viên tâm huyết với lĩnh vực nông, lâm nghiệp theo hướng công nghệ cao. Hợp tác xã liên kết với doanh nghiệp với sản phẩm chủ lực là măng lục trúc và cây đàn hương (cây lâm nghiệp thân gỗ quý hiếm cho khai thác lá, tinh dầu và gỗ). Theo đó, đơn vị tập trung xây dựng vườn ươm, mở rộng vùng nguyên liệu, đầu tư nhà máy và dây chuyền chế biến sâu, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Hiện Hợp tác xã sản xuất nông lâm nghiệp công nghệ cao Ngọc Thiện có khoảng 300 ha măng lục trúc; bước đầu triển khai liên kết với Công ty cổ phần SmartGap Holding (Hà Nội) ươm giống và trồng cây đàn hương tại tỉnh Bắc Ninh và một số tỉnh, thành phố trong cả nước. Lãnh đạo Liên minh Hợp tác xã tỉnh thăm vườn ươm măng lục trúc của hợp tác xã. ảnh: Mai Toan Theo Liên minh Hợp tác xã tỉnh, đến nay toàn tỉnh có 2.113 hợp tác xã, trong đó lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 68,76%; còn lại là phi nông nghiệp. Việc thành lập thêm hợp tác xã đa ngành lĩnh vực nông, lâm nghiệp theo hướng công nghệ cao phù hợp với định hướng phát triển của tỉnh, khẳng định vai trò của kinh tế tập thể trong xây dựng chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Qua đó, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội địa phương và hướng đến xuất khẩu bền vững. Nguồn:https://www.baobacninhtv.vn/ra-mat-hop-tac-xa-san-xuat-nong-lam-nghiep-cong-nghe-cao-ngoc-thien-postid441988.bbg
Trà Sư và Danh Trà Mã Dọ Sông Cầu – Phú Yên
Trà mã dọ chất lượng hơn trà Đài Loan, Nhật Bản giá 60tr/kg. Trà sư Ngô Thị Thanh Tâm uống và chia sẻ
Tre trong dòng chảy văn hóa Việt – đồng hành qua thiên tai
Không chỉ là bóng mát hiền lành bên ngõ, tre còn là lá chắn, là mái che, là bè cứu hộ, là niềm tin để con người nương tựa mỗi khi bão gió, cuồng phong. Trong ký ức dân tộc, có một loài cây mảnh mai nhưng bền bỉ, giản dị nhưng kiêu hãnh, lặng lẽ mà gắn bó máu thịt: Cây tre. Từ thuở làng quê còn vẹn nguyên bóng dáng cổng tre, từ những ngày kháng chiến gian lao đến hôm nay, khi đất nước đã bước vào quỹ đạo hiện đại hóa, tre vẫn hiện diện như một phần hồn cốt Việt Nam. “Tre không chỉ là chất liệu của đời sống mà còn là biểu tượng của văn hóa. Qua bao biến thiên, tre nhắc nhở chúng ta về sức mạnh cộng đồng, về sự mềm dẻo trong ứng xử, về khát vọng vươn lên. Thế kỷ XXI nhiều thử thách: đô thị hóa, biến đổi khí hậu, hội nhập toàn cầu, nhưng, chính trong bối cảnh ấy, tre càng khẳng định sức sống trường tồn.” Ở một đất nước khí hậu nhiệt đới gió mùa, thiên tai thường trực, người Việt từ ngàn đời đã học cách tồn tại cùng bão tố, mưa lũ. Trong hành trình sống ấy, có những người bạn đồng hành âm thầm mà một khi ứng vào hoàn cảnh thực tế, ta mới thấu tỏ giá trị. Tre chính là một trong những người bạn như vậy. Không chỉ là bóng mát hiền lành bên ngõ nhỏ, tre còn là lá chắn, là mái che, là các vật dụng trong đời sống, là chiếc bè cứu hộ, là niềm tin để con người nương tựa mỗi khi bão gió, cuồng phong. “Gió thổi thì tre nghiêng, gió quật thì tre rạp, nhưng hiếm khi tre gãy. Đó là một sự thích ứng tự nhiên, cũng là một triết lý sống: cái mềm dẻo, linh hoạt là cái có thể tồn tại bền bỉ trước khắc nghiệt.” Trong ký ức của nhiều thế hệ, hình ảnh lũy tre làng luôn gắn liền với sự bình yên. Nói đến làng quê Việt Nam, không thể không nhắc đến lũy tre làng. Lũy tre có tự bao giờ không ai nhớ, chỉ biết mỗi con người sinh ra lớn lên đã thấy hình ảnh lũy tre. Lũy tre án ngữ ven sông, bên đường cái, bãi đất trống, đầu làng. Thân gầy mà gan góc, rễ đan vào nhau, ăn vào đất, kết thành một mạng lưới bền bỉ như mạch máu quê hương. Nơi nào có tre là nơi ấy có bóng mát. Nơi nào có tre là nơi đó đất ít sạt, bờ ít lở. Khi bão giông gió nổi, tre dựng thành bức tường xanh ngăn gió, giữ bình yên cho mỗi ngôi nhà. Tre không chỉ là cây, tre là “người lính già” canh xóm nhỏ. Lũy tre khổng lồ ở làng quê Gió thổi thì tre nghiêng, gió quật thì tre rạp, nhưng hiếm khi tre gãy. Đó là một sự thích ứng tự nhiên, cũng là một triết lý sống: cái mềm dẻo, linh hoạt là cái có thể tồn tại bền bỉ trước khắc nghiệt. Trong ký ức của nhiều thế hệ, hình ảnh lũy tre làng luôn gắn liền với sự bình yên. Nói đến làng quê Việt Nam, không thể không nhắc đến lũy tre làng. Lũy tre có tự bao giờ không ai nhớ, chỉ biết mỗi con người sinh ra lớn lên đã thấy hình ảnh lũy tre. Lũy tre án ngữ ven sông, bên đường cái, bãi đất trống, đầu làng. Thân gầy mà gan góc, rễ đan vào nhau, ăn vào đất, kết thành một mạng lưới bền bỉ như mạch máu quê hương. Nơi nào có tre là nơi ấy có bóng mát. Nơi nào có tre là nơi đó đất ít sạt, bờ ít lở. Khi bão giông gió nổi, tre dựng thành bức tường xanh ngăn gió, giữ bình yên cho mỗi ngôi nhà. Tre không chỉ là cây, tre là “người lính già” canh xóm nhỏ. Những khi nước sông dâng, nghe tiếng nước táp bờ ì oạp, biết là từng búi rễ đang chống chọi với sức nước để giữ đất, những đêm bão về, nghe tiếng tre vặn mình, biết bức tường thành xanh đang dang tay che chắn gió cho xóm làng. Cũng trong những ngày mưa gió ấy, ngôi nhà tranh tre mộc mạc là nơi che trú, là giấc mơ an lành của bao người nông dân Việt. Tre đứng thẳng làm cột, nằm ngang làm kèo, chẻ nhỏ làm nan, vót mảnh làm đòn tay. Mái rạ lợp trên rui mè tre, phên tre nứa, vách cũng là khung tre được đan thành tấm với những ô vuông hoặc chữ nhật để đắp nguyên liệu bùn và rơm vào, tạo nên không gian ấm cúng. Trong nắng lửa mưa giông, ngôi nhà tre vẫn vững vàng. Giữa bao biến động, ngôi nhà tre là nơi trú ẩn của bình yên, của khói bếp, của tiếng trẻ thơ, của tiếng ru tựa gió đồng. Tre không chỉ dựng nên mái nhà mà còn dựng nên mái ấm quê hương – nơi con người trở về, tìm lại chỗ dựa tinh thần sau những chênh chao đời sống. Một góc trong ngôi nhà tre trăm tuổi ở Quảng Nam. Ảnh: Trương Điện Thắng. Người bạn tri kỷ mang cái tên giản dị – Tre cũng là một “chiến binh” quả cảm trên mặt trận hộ đê chống lũ. Từ xa xưa, người Việt đã biết dựa vào tre để giữ đê, giữ đất. Trước sức nước ngông cuồng đe dọa sự an toàn của con đê, người dân quê đã biết dùng những cọc tre đóng sâu xuống chân đê làm trụ làm khung để neo lớp bạt, lớp lưới định vị cho các bao cát, các tải đá hộc tầng
Để vựa măng Bát Độ phát triển bền vững và gia tăng giá trị
LÀO CAI – Cây tre Bát Độ phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng, và hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy, Lào Cai có kế hoạch mở rộng vùng nguyên liệu lên 10.000ha và chế biến sâu. Hơn 2 thập kỷ trở về trước, nhiều vùng đồi núi ở các tỉnh Yên Bái (cũ) và Lào Cai (cũ) chủ yếu là đất trống, đồi núi trọc, hoặc trồng các loại cây ngắn ngày hiệu quả thấp như ngô, sắn. Đời sống người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số gặp muôn vàn khó khăn. Cây tre Bát Độ, từ một giống cây xa lạ đã từng bước trở thành “cây xóa đói giảm nghèo” chủ lực, biến những vùng đồi đất dốc thành một vùng măng nguyên liệu bạt ngàn. Với diện tích lên đến hơn 7.250 ha, tre măng Bát Độ đang thực sự thay đổi bộ mặt kinh tế – xã hội của nhiều địa phương. Loài tre đặc biệt thích nghi với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng ở nhiều vùng đất của Lào Cai. Đặc biệt, loại cây trồng này không chỉ dễ trồng, dễ chăm sóc mà còn có khả năng sinh trưởng mạnh, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ đất, giữ nước và chống sạt lở… Với những lợi ích kinh tế đã được khẳng định trong nhiều năm qua, Lào Cai đã quy hoạch các vùng nguyên liệu tập trung. Đến nay, bản đồ măng tre đã được định hình rõ nét. Một số địa phương có diện tích lớn như: Quy Mông 2.270ha Hưng Khánh 1.896ha Lương Thịnh 635ha Đông Cuông 364ha Yên Thành 195 ha Mường Lai với 260ha Văn Bàn với 536 ha Qua đó, góp phần tạo nên một vùng nguyên liệu rộng lớn, liên hoàn, tạo điều kiện lý tưởng cho việc tổ chức sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Trong tổng số hơn 7.200 ha, có khoảng 5.000 ha đang trong thời kỳ thu hoạch ổn định. Với năng suất bình quân đạt từ 20-25 tấn/ha/năm, mỗi ha tre Bát Độ mang về cho người nông dân thu nhập bình quân 70 – 80 triệu đồng/ha/năm. Theo ông Vũ Minh Phúc, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lào Cai, trên địa bàn tỉnh đã hình thành một mạng lưới thu mua, chế biến khá hoàn chỉnh. Có 3 doanh nghiệp lớn đóng vai trò chủ chốt là Công ty Cổ phần Yên Thành, Công ty TNHH Vạn Đạt và Công ty Yamazaki. Cùng với đó, còn có nhiều doanh nghiệp và hơn 10 Hợp tác xã (HTX) như HTX nông lâm nghiệp Thủy Sơn, HTX măng Dần Thàng, HTX măng Nậm Xé, HTX Măng tre Bát độ Hưng Khánh… đang tích cực tham gia vào chuỗi giá trị, tổ chức thu mua và chế biến sơ cấp. Các sản phẩm chính từ măng Bát Độ là măng lên men, măng khô và măng chua. Những sản phẩm này đã tìm được đường xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Nhật Bản và Đài Loan (Trung Quốc). Đây là một tín hiệu đáng mừng, khẳng định chất lượng măng Bát Độ của tỉnh Lào Cai hoàn toàn có thể chinh phục và mở rộng thị trường quốc tế. Sản phẩm măng Bát Độ được các doanh nghiệp sơ chế và xuất khẩu thô sang Nhật Bản. Ảnh: Thanh Tiến. Phần lớn sản lượng măng Bát Độ của tỉnh (chiếm hơn 90%) vẫn đang được bán thô hoặc qua sơ chế cực kỳ đơn giản (như luộc, sấy thủ công). Điều này giống như đang “bán lúa non”, chưa phát huy hết giá trị thu nhập có thể mang lại. Giá trị gia tăng lớn nhất của cây măng không nằm ở củ măng tươi, mà nằm ở các sản phẩm chế biến tinh, sẵn sàng lên bàn ăn của người tiêu dùng toàn cầu. Mở rộng diện tích lên 10.000ha và hướng tới chế biến sâu. Ông Vũ Minh Phúc cho biết thêm, tiềm năng của ngành hàng măng Bát Độ nói riêng và các sản phẩm măng khác của Lào Cai là không thể phủ nhận. Bên cạnh những thuận lợi về điều kiện tự nhiên, hiệu quả kinh tế cao và chính sách hỗ trợ của tỉnh, việc có sẵn thị trường xuất khẩu như Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc) là tấm vé bảo hành cho chất lượng. Lào Cai đang phấn đấu mở rộng diện tích diện tích và nâng sản lượng măng thương phẩm. Ảnh: Thanh Tiến. Tuy nhiên, để phát triển bền vững và nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích vẫn gặp một số trở ngại. Thứ nhất, là khâu vận chuyển. Măng tươi rất nặng, dễ hỏng và cần được xử lý nhanh. Việc vận chuyển măng từ các vùng trồng, vốn là đồi núi đến các cơ sở chế biến tập trung gặp rất nhiều khó khăn về hạ tầng giao thông, đẩy chi phí logistics lên cao và làm giảm chất lượng nguyên liệu. Thứ hai, về công nghệ chế biến, các cơ sở hiện có, bao gồm cả các HTX, phần lớn vẫn còn nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, chủ yếu là sơ chế. Trên địa bàn tỉnh vẫn thiếu những nhà máy quy mô lớn với công nghệ hiện đại để sản xuất các mặt hàng giá trị cao như măng đóng hộp, măng sấy, măng ăn liền… Thứ ba, sự liên kết “4 nhà” (Nhà nông – Nhà nước – Nhà khoa học – Doanh nghiệp) tuy đã hình thành nhưng chưa thực sự chặt chẽ. Nông dân chưa hoàn toàn yên tâm sản xuất theo quy trình, còn doanh nghiệp cũng gặp khó trong việc cạnh tranh thu mua nguyên liệu. Để biến tiềm năng vùng nguyên liệu măng tre rộng lớn thành tài sản có giá trị lớn hơn, góp phần nân cao thu nhập trên
Mùi nếp trong trà Phổ Nhĩ Nếp là từ đâu mà ra?
Có lẽ các bạn trà hữu đã từng uống món trà phổ nhĩ (sống/chín) thơm mùi nếp, vậy mùi nếp đó có từ đâu? Đó là mùi của một loại lá mang tên Trà Tiên Núi Cấm – Thiên Cấm Sơn với tên khoa học Semnostachya menglaensis H.P.Tsui. Trà Tiên có nhiều thành phần mùi thơm và các Axit amin có lợi cho cơ thể người, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, thường được người dân tộc thiểu số Vân Nam trồng quanh nhà để làm thuốc giải cảm, khi bị cảm sốt đau đầu, họ sẽ ngắt lá nấu cùng trà để uống. Thường thì, sẽ có 2 cách tạo mùi nếp cho trà phổ nhĩ. Cách 1 là đối với phổ nhĩ sống, họ nghiền lá Trà Tiên Núi Cấm ra rồi trộn cùng trà theo tỷ lệ nhất định và ép thành viên trà phổ nhĩ sống nhỏ. Sau này, cùng với sự phát triển của kỹ thuật gia công, người ta nghĩ ra cách dựa vào đặc tính hút mùi của lá trà, dùng kỹ thuật hấp bằng cách nấu lá Trà Tiên Núi Cấm ở tầng dưới, để trà bên trên rồi hấp khiến cho mùi nếp ám vào trà, cho ra thành phẩm là loại trà phổ nhĩ chín mang mùi Trà Tiên Núi Cấm. Chúng ta có thể gặp loại trà này ở dạng viên, cục hay trà hóa thạch
Kỹ thuật trồng tre lấy măng
– Thân tre có thể dùng làm nhà cửa, nông cụ, làm giấy, sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, dụng cụ thể dục thể thao, nhạc cụ, bàn ghế, tủ giường từ thô sơ đến cao cấp và các đồ gia dụng khác.– Trồng tre Tàu hay tre Lục Trúc mau cho thu hoạch. Sau khi trồng một năm đã bắt đầu thu hoạch măng và cây làm giống. Sau ba năm, thu hoạch măng ổn định với năng suất từ 6-30 tấn/ha (tùy thuộc vào việc đầu tư chăm sóc). – Do hàng năm tre, trúc sinh sản vô tính theo cấp số, nên trong bụi tre có nhiều thế hệ tuổi cây. Nếu được chăm sóc tốt và đúng kỹ thuật thì năm nào người trồng cũng được thu hoạch cả măng, thân và giống mà không phải trồng lại trong một chu kỳ lâu dài rất nhiều năm. Ở Việt Nam hiện có một số giống tre chủ yếu nhập từ Trung Quốc và Ðài Loan: Tre tầu, tre lục trúc, tre mạnh tông, tre điền trúc, tre mao trúc, luồng Thanh Hoá. Ở Lâm Ðồng, ngoài giống tre Mạnh tông đã có từ trước, Trung tâm khuyến nông tỉnh trong năm 2001 đã tiến hành trồng thử nghiệm các giống tre tầu, tre mạnh tông; luồng Thanh Hóa tại Bảo Lộc, Ðạ Huoai, Ðạ Tẻh (Lâm trường Ðạ Tẻh có trồng 20ha luồng Thanh Hóa), Cát Tiên. Các giống tre trên đều có kỹ thuật trồng và chăm sóc tương tự nhau, chúng tôi xin giới thiệu kỹ thuật trồng, chăm sóc tre tầu (Sinocalamus Latiflorus. McClure) và cây tre lục trúc (Bambusa Olđhamii. Munro) hiện đang được trồng nhiều tại Việt Nam. Hiện nay cây tre Tàu đã và đang được người dân ở các tỉnh miền Ðông Nam Bộ trồng rất nhiều, có nơi như Phú Thành (Bình Phước) đã trồng trên 300ha. Tre Lục Trúc mới được du nhập từ Ðài Loan vào nước ta hơn 3 năm nay, đã được trồng ở một số tỉnh miền núi phía Bắc (Hà Bắc, Lạng Sơn, Hà Tây?), bắt đầu năm 2000 mới được Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cho phép đưa vào trồng thử nghiệm ở các tỉnh phía Nam, do vậy kỹ thuật trồng và chăm sóc đưa ra chỉ là tài liệu tham khảo từ kỹ thuật trồng thực tế của các giống tre lấy măng khác. 1. ÐẶC TÍNH SINH HỌC Cây tre Tàu có tên khoa học là Dendrocalamus latiflorus Munro thuộc Họ phụ Bambusoideae, Họ Poaceae, lớp Một lá mầm, cây có một thân chính hình tròn rỗng, màu xanh thẫm, khi non có phấn trắng, khi già có màu xanh vàng. Cây cao trung bình 13-15m, thân thẳng thuôn đều, hơi cong ở phần ngọn. Tre Tàu được nhập vào Việt Nam chuyên để kinh doanh măng, năng suất cao (20 tấn/ha/năm), chất lượng cao, có giá trị xuất khẩu. Cây thuộc loại ưa sáng, dễ tính, thích hợp với khí hậu nóng ẩm, phân bố ở độ cao từ 2m đến 850m so với mặt biển, ở vùng có nhiệt độ bình quân năm từ 21-27oC, lượng mưa trung bình trong năm từ 1500-2500 mm/năm, như Bảo Lộc (Lâm Ðồng), Tây Ninh, Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh? Ðây là loại tre được nông dân các tỉnh miền Ðông Nam Bộ trồng rất phổ biến ở quanh nhà để lấy măng và thân tre làm đồ gia dụng. Tre Tàu trồng được trên nhiều loại đất khác nhau có thành phần cơ giới nhẹ và thoát nước, mọc thích hợp nơi có tầng đất canh tác sâu trên 50cm. Cây có thân ngầm, mọc cụm theo kiểu hợp trục, có khả năng tái sinh vô tính rất mạnh. Trồng tre một lần có thể cho thu hoạch 40-50 năm sau. 2. NHÂN GIỐNG Ðối với các loại tre, trúc nói chung có nhiều cách nhân giống để trồng như: – Trồng bằng hom gốc, – Trồng bằng thân ngầm, – Trồng bằng hom cành, – Trồng bằng đoạn thân khí sinh (hom thân), – Trồng bằng hạt. Nên chọn những bụi (khóm) tre phát triển tốt, không sâu bệnh, chưa ra hoa để lấy giống. Có thể trồng bằng giống gốc (hom gốc, thân mềm) hoặc bằng giống hom cành (qua thử nghiệm trồng ở Phân viện nghiên cứu khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ và đã được trồng tại Nông trường Phú Thành – Bình Phước), nhìn chung mỗi phương thức trồng có những ưu nhược điểm khác nhau nhưng về năng suất không sai khác nhau là mấy kể từ năm thứ ba trở đi. Tuy nhiên việc nhân giống tre bằng hom cành cần có sự chuẩn bị trước ít nhất là 3 tháng ươm, cây mới đủ tiêu chuẩn và khả năng sống cao khi đem ra trồng rừng. Hom gốc Nhiều nơi trồng tre Tàu bằng hom gốc. Hom bao gồm một phần thân khí sinh (thân tre) có 3 lóng dài 80-100cm, có đường kính từ 6cm trở lên, mang một thân ngầm 8-10 tháng tuổi được cắt tách từ cây mẹ đem ươm. Vườn ươm nên có địa hình tương đối bằng phẳng và thoát nước. Ðất phải cày bừa kỹ sau đó rạch hàng và bón lót phân chuồng hoai từ 2-3kg/m2. Các hom nên đặt nghiêng 45o so với mặt đất theo cự ly 0,8m x 0,8m, lấp đất kín phần thân ngầm và nén chặt. Lóng trên cùng của hom gốc được đổ đầy nước và dùng cỏ tranh hoặc rơm rạ che bọc xung quanh, tưới giữ ẩm đều cho hom. Vườn ươm nên che phủ 60% ánh sáng, sau 2-4 tuần lễ, hom tre sẽ ra rễ và chồi, lúc đó nên dỡ bỏ dần dàn che, tiếp tục nuôi hom 2,5-3 tháng tuổi, khi hom ra rễ và có cành lá
Vùng biên giới Đắk Lắk khai mở tiềm năng kinh tế xanh từ cây tre
Hôm nay (5/2), Sở Nông nghiệp và Môi trường Đắk Lắk tổ chức Hội thảo “Thực trạng, tiềm năng và định hướng phát triển cây tre gắn với chuỗi giá trị tại tỉnh Đắk Lắk”, nhằm tìm giải pháp hình thành kinh tế xanh bền vững cho ngành hàng tre. Theo đánh giá tại hội thảo, Đắk Lắk có quỹ đất lâm nghiệp lớn và tre được xem là lựa chọn phù hợp, chi phí đầu tư thấp, tạo sinh kế ổn định cho người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, diện tích tre toàn tỉnh Đắk Lắk hiện mới khoảng 3.500 ha, trong đó chỉ 50 ha trồng từ giống mới năng suất, chất lượng cao; phần lớn còn lại là tre rừng tự nhiên. Việc phát triển còn nhỏ lẻ, thiếu liên kết, chủ yếu tiêu thụ măng tươi, chưa hình thành vùng nguyên liệu tập trung và chuỗi chế biến sâu. Các đại biểu cho rằng, để cây tre trở thành ngành hàng có giá trị, tỉnh cần sớm quy hoạch vùng trồng, đẩy mạnh liên kết “bốn nhà”, thu hút doanh nghiệp đầu tư chế biến, đa dạng hóa sản phẩm từ thủ công mỹ nghệ, vật liệu xây dựng đến hàng gia dụng, xuất khẩu. Bà Đặng Thị Thuỷ, Phó Giám đốc Sở NN&MT Đắk Lắk khẳng định cây tre sẽ mở ra cơ hội phát triển mới trên vùng đất khô cằn, nghèo dinh dưỡng “Cần phải có một nghị quyết chuyên đề phục vụ cho phát triển ngành tre. Với chính quyền sẽ đóng vai trò kiến tạo môi trường để kết nối doanh nghiệp và người sản xuất tre, bà con nông dân. Đối với các chính quyền địa phương sẽ hỗ trợ giúp cho bà con nông dân vừa đào tạo nghề, vừa phát triển sản xuất ngành tre để mang lại hiệu quả kinh tế cũng như về kinh tế xanh, cả về môi trường cũng như là thu nhập cho bà con nông dân”, ông Phan Văn Thắng, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Lâm sản ngoài gỗ nêu ý kiến. Ông Đinh Văn Đang, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Đắk Lắk giải đáp những câu hỏi của nông dân về phát triển cây tre tại địa phương Theo bà Đặng Thị Thuỷ, Phó Giám đốc Sở NN&MT Đắk Lắk, hội thảo là bước khởi đầu quan trọng giúp địa phương nhìn nhận rõ tiềm năng, tháo gỡ điểm nghẽn và từng bước xây dựng chuỗi giá trị cây tre bền vững, gắn phát triển kinh tế nông thôn với bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu. Việc quan tâm đến thị trường tín chỉ carbon cũng mở ra thêm cơ hội để Đắk Lắk phát triển mô hình kinh tế xanh từ cây tre trong thời gian tới. “Thế giới hiện nay đã quan tâm đến Chứng chỉ carbon, đây là 1 trong tiềm năng cơ hội để Đắk Lắk phát triển mô hình cây tre. Muốn thành ngành hàng, địa phương cùng bà con phải có tư duy dám mạnh dạn, dám đổi mới và phải coi cây tre không chỉ là cây trồng lâm nghiệp đơn thuần, còn là một ngành hàng có giá trị kinh tế cao, phát triển theo chuỗi giá trị hoàn chỉnh”, bà Đặng Thị Thuỷ nhìn nhận. Nguồn:https://vov.vn/kinh-te/vung-bien-gioi-dak-lak-khai-mo-tiem-nang-kinh-te-xanh-tu-cay-tre-post1266893.vov
Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) ban hành “cảnh báo nhập khẩu” chén đĩa mo cau
Mangaluru: Việc xuất khẩu bát đĩa làm từ mo cau, được coi là đồ dùng ăn uống thân thiện với môi trường, từ huyện Dakshina Kannada sang Mỹ, Canada và Úc đang đối mặt với nhiều bất ổn khi Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) ban hành “cảnh báo nhập khẩu” nhằm ngăn chặn việc nhập khẩu bát đĩa làm từ mo cau để bán tại Mỹ. Ông Soma Chaudhury, Phó Giám đốc kiêm Trưởng đại diện Karnataka của Liên đoàn các Tổ chức Xuất khẩu Ấn Độ (FIEO), xác nhận rằng Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã ban hành cảnh báo nhập khẩu (IA 23-15) tháng 5/2025, thông báo cho các nhà bán lẻ, nhà phân phối và nhà nhập khẩu đồ dùng ăn uống làm từ lá cau rằng bát, đĩa, cốc và dao kéo làm từ vỏ cau là một chất phụ gia thực phẩm không an toàn theo định nghĩa tại Điều 409 của Đạo luật Thực phẩm, Dược phẩm và Mỹ phẩm Liên bang (Đạo luật FD&C – 21 U.S.C. 348(a)). Cảnh báo IA nêu rõ rằng đồ dùng ăn uống làm từ mo cau “không được phép bày bán hợp pháp tại Hoa Kỳ”. Chén đĩa mo cau cũng đồng thời bị cấm ở Canada và Úc. Nghiên cứu của FDA cho thấy các chất alkaloid rất độc hại với “tác dụng gây độc tế bào và gây ung thư” có thể di chuyển vào thực phẩm từ đồ dùng ăn uống này. Theo các nguồn tin từ Trung tâm Xúc tiến Thương mại Visvesvaraya (VTPC), đồ dùng ăn uống làm từ mo cau không hẳn là bị cấm ở Mỹ nhưng đã bị loại khỏi danh mục được công nhận là an toàn (GRAS). Tuy nhiên, cảnh báo nhập khẩu đã ảnh hưởng đến xuất khẩu đồ dùng ăn uống bằng mo cau từ huyện Dakshina Kannada (Karnataka đóng góp gần một phần ba lượng xuất khẩu sản phẩm mo cau của cả nước, theo số liệu do VTPC có trụ sở tại Bengaluru tổng hợp). “Chúng tôi rất bối rối,” một nhà xuất khẩu giấu tên tiết lộ. “Chúng tôi đã tạm ngừng xuất khẩu đồ dùng ăn uống bằng mo cau vì chưa nhận được bất kỳ đơn đặt hàng mới nào từ các nhà phân phối ở Mỹ. Không có thông tin về số tấn đồ dùng ăn uống bằng mo cau đã được vận chuyển bằng tàu chở hàng từ cảng New Mangalore đến Mỹ. Chúng tôi không biết liệu hàng hóa đã bị giữ lại hay được phép bán tại thị trường Mỹ,” nhà xuất khẩu nói với DH. Xuất khẩu đồ dùng ăn uống bằng mo cau từ cảng New Mangalore đã giảm từ 1.863 tấn trong năm tài chính trước xuống còn 1.359 tấn trong năm tài chính 2024-2025. Thu nhập từ xuất khẩu bát đĩa lá cau của Ấn Độ đã giảm 6,71% so với năm tài chính trước, theo số liệu thống kê do Tổng cục Ngoại thương (DGFT) tổng hợp. Theo một nhà xuất khẩu, ngành công nghiệp sản xuất đĩa mo cau dùng một lần trị giá khoảng 20 triệu đô la và đứng thứ hai sau đĩa bã mía của Trung Quốc (khoảng 1 tỷ đô la) tại Mỹ. Hiện tại, các nhà xuất khẩu vẫn đang hy vọng vì đĩa mo cau cũng được xuất khẩu sang Anh, Hà Lan, Đức và Thụy Điển, theo Tổng cục Tình báo và Thống kê Thương mại (DGCIS). Cựu chủ tịch Ủy ban Giá nông sản Karnataka, Tiến sĩ T N Prakash Kammardi, cho biết động thái của FDA thiếu minh bạch và sẽ ảnh hưởng xấu đến ngành công nghiệp sản xuất đồ dùng ăn uống từ cau và người nông dân. Ông nói rằng việc FDA tập trung có chọn lọc vào khả năng độc hại của các alkaloid này, trong khi bỏ qua các nghiên cứu khẳng định tính an toàn của chúng, là thiển cận về mặt khoa học và thiếu tính khách quan. Việc FDA dựa vào Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IACR) của Tổ chức Y tế Thế giới thiếu chiều sâu khoa học và không đáp ứng ngưỡng bằng chứng cần thiết cho một quyết định có hậu quả kinh tế và pháp lý sâu rộng như vậy. Tiến sĩ Kammardi cho biết ngành công nghiệp này hiện được định giá 3.500 crore rupee và có 600 doanh nhân cùng hàng nghìn công nhân lành nghề chỉ riêng ở Karnataka đang tham gia vào lĩnh vực thân thiện với môi trường này. Thay mặt 106 nhà khoa học, chuyên gia y tế và học giả nổi tiếng, Tiến sĩ Kammardi đã viết thư cho Thủ tướng Chính phủ để can thiệp và đảm bảo rằng các hạn chế đối với đồ dùng ăn uống phân hủy sinh học làm từ vỏ lá cau được dỡ bỏ ngay lập tức. Cuộc họp thảo luận về hậu quả: Chủ tịch Công ty Hợp tác xã Tiếp thị và Chế biến Cùi và Ca cao Trung ương (Campco) Ltd, ông Kishore Kumar Kodgi, nói với báo DH rằng một cuộc họp để thảo luận về những tác động của cảnh báo nhập khẩu của FDA đang được lên kế hoạch tại Shivamogga. Một phái đoàn do cựu Bộ trưởng Araga Jnanendra và Nghị sĩ Vishweshwar Hegde Kageri dẫn đầu sẽ đến New Delhi để kêu gọi Chính phủ Trung ương kháng cáo cảnh báo nhập khẩu của FDA. Nguồn: https://www.deccanherald.com/india/karnataka/us-fda-toxic-tag-to-areca-foodware-hits-exporters-3559904
Doanh nhân Ấn Độ tìm giải pháp để biến chén đĩa mo cau trở nên an toàn sau lệnh cấm của Mỹ
Mangaluru: Doanh nhân kiêm nhà nghiên cứu Nivedan Nempe đã phát triển một giải pháp thay thế sáng tạo, thân thiện với môi trường sau lệnh cấm gần đây của Mỹ đối với đồ dùng ăn uống làm mo cau. Sự can thiệp của ông đến vào thời điểm quan trọng, khi những người trồng cau và các chuyên gia trong ngành từ vùng trồng cau của Karnataka đã kêu gọi Thủ tướng Narendra Modi dỡ bỏ lệnh cấm này. Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã ban hành cảnh báo nhập khẩu cấm đồ dùng ăn uống làm từ mo cau (areca catechu), với lý do mo cau có chất độc từ quả cau tự nhiên và nó có thể ảnh hướng đến thực phẩm khi tiếp xúc ở mức độ không an toàn. Mối quan ngại của FDA đã ảnh hưởng đáng kể đến ngành công nghiệp sản xuất bát đĩa mo cau trị giá 400-500 triệu đô la của Ấn Độ, với gần 80-85% xuất khẩu hướng đến Mỹ. Hầu hết các nhà sản xuất tập trung ở Dakshina Kannada và Shivamogga, và lệnh cấm này đe dọa sinh kế của nhiều gia đình. Nivedan, người sáng lập Areca Tea, hoạt động tại Udupi và Shivamogga, thừa nhận những lo ngại của FDA và nói với TOI: “Như một biện pháp phòng ngừa, FDA đã cấm nhập khẩu. Nhưng điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nhà sản xuất Ấn Độ. Ngành công nghiệp Ấn Độ đã nỗ lực, bao gồm cả việc viết thư cho FDA, nhưng ngành công nghiệp vẫn đang gặp rủi ro.” Để đối phó, Nempe đã chế tạo một loại giấy lót kháng khuẩn đạt tiêu chuẩn thực phẩm, hoạt động như một lớp chắn giữa thực phẩm và đĩa mo cau, ngăn ngừa sự di chuyển của độc tố và sự phát triển của nấm mốc. “Vật liệu này đã được chứng nhận, có thể chịu nhiệt lên đến 300°C, bền & có thể in ấn lên bề mặt đối với sản phẩm cao cấp. Nó đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn quốc tế mà không làm thay đổi quy trình sản xuất hiện có,” ông nói. Mặc dù sự đổi mới này có thể làm tăng chi phí sản xuất từ 10-15%, Nivedan tin rằng đó là cách tốt nhất để tiến lên. “Kết quả thí nghiệm của chúng tôi rất tích cực trên tất cả các thông số. Nó thậm chí còn trông đẹp hơn cả đĩa làm từ bã mía. Mục tiêu của tôi là bảo vệ ngành công nghiệp và hỗ trợ nông dân bằng cách cung cấp loại giấy đạt tiêu chuẩn thực phẩm mới này.” Nguồn: https://timesofindia.indiatimes.com/city/mangaluru/entrepreneur-finds-alternative-to-make-areca-plates-safer-after-us-ban/articleshow/121604045.cms















