Từ xa xưa, tre đã là biểu tượng của nông thôn Việt Nam, từ lâu người ta đã biết sử dụng tre phục vụ trong sinh hoạt như thân tre làm nhà, làm thủ công mĩ nghệ, măng tre để ăn. Không những thế lá tre, nước cây tre còn là vị thuốc quý được nhân dân ta ứng dụng chữa nhiều chứng bệnh khác nhau, để biết thêm công dụng điều trị bệnh từ tre, mời bạn đọc tham khảo bài viết dưới đây. Đặc điểm của cây tre 1. Tên gọi Tên gọi khác: Tre gai, Tre gai rừng, Tre lộc ngộc, Tre vườn, Tre nghệ. Tên khoa học – Bambusa bambos (L.). Thuộc họ Lúa – Poaceae. 2. Mô tả thực vật Cây tre rất to, cao đến 35m, mọc thành từng bụi, thân có gai to. Lá hình trứng thuôn dài, mũi nhọn, có có bẹ dày vàng, phiến nhỏ hơn. Lá hai cùng màu rộng khoảng 1-1,5cm. Chuỳ gồm nhiều bông hoa có màu ve chai láng, dài khoảng 2-2,5cm. Hoa 2-4; mày trên có rìa lông. Quả thóc tròn dài khảng 5-8mm. Cây tre thường mọc thành từng bụi lớn 3. Bộ phận dùng Nhiều bộ phận của cây được dùng làm thuốc như: Lá tre (Trúc diệp), tinh cây Tre (Trúc nhự) nước Tre non (Trúc lịch). Lá tre là một bộ phận của cây tre gai, các phiến lá chưa mở hết được gọi là trúc diệp. Khi trúc diệp ở dạng búp hay đọt được gọi bằng tên “trúc diệp quyển tâm”. 4.Phân bố Loài cây có nguồn gốc từ Ấn Độ được trồng nhiều làm hàng rào quanh các làng xóm, các vườn gia đình. Cũng thường gặp ở trạng thái hoang dại. Thu hái và chế biến Ðể lấy tinh tre, cạo bỏ vỏ xanh, sau đó cạo lớp thân thành từng phoi mỏng còn phơn phớt xanh, rồi hơi khô. Khi dùng, tẩm nước gừng sắc. Tre non tươi về nướng lên, vắt lấy nước, ta được nước tre non. Lá tre thường được dùng tươi. Tinh cây tre: được chế biến bằng cách cạo lớp thân của cây tre Bộ phận sử dụng Theo sách Tuệ Tĩnh, tre làm thuốc tốt nhất là loại tre gai. Người ta thường dùng Lá tre (Trúc diệp), Tinh cây tre (Trúc nhự), Nước trong cây tre (Trúc lịch), Măng cây tre (Trúc duẫn) để làm thuốc chữa bệnh. Thành phần hóa học Theo dược tính hiện đại trong 100g tre có 4,11g protein, 18 loại acid amin, 0.1g chất béo; 5.7g chất đường; 2.2g calci; 5.6g phosphor; 0.1g sắt; carotene; vitamin nhóm B; Vitamin C có hàm lượng cao gấp 2 lần rau cải. Lá tre chứa nhiều chất khoáng nhue selenium, silic, magnesium, kalium, calcium… là các chất bù lại sự mất nước và muối khoáng do ra nhiều mồ hôi. Tác dụng 1. Theo Y học cổ truyền Tính vị, tác dụng Lá tre có vị đắng, tính mát, có tác dụng giải nhiệt, hạ sốt, giảm nôn, thanh âm, tiêu đờm, cầm huyết, dùng trong chữa trị cảm sốt, cảm nắng, cảm ho, sốt cao, phiền nhiệt viêm nhiễm đường hô hấp. Dùng lá tươi 50-100g hoặc lá khô dùng 25-50g sắc uống. Tinh cây tre cạo lớp vỏ ngoài cây tre có vị ngọt, tính hơi lạnh; có tác dụng thanh nhiệt, lương huyết, trừ phiền, khỏi nôn, an thai. Chữa trị nóng sốt, buồn nôn, xuất huyết, chảy máu cam, tiểu ra máu, băng huyết. Dùng 15-20g tẩm nước gừng sao qua sắc uống. Nước tre non có vị đắng, hơi ngọt, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt, tiêu khát, trừ đờm. Chữa trị sốt cao phiền nhiệt, kinh phong ứ đờm, trúng phong cấm khẩu. Khi dùng lấy măng vòi tre non hơ qua lửa vắt lấy nước, người lớn 40-50ml pha ít nước gừng uống, trẻ em thì liều dùng ½ người lớn. 2. Theo Y học hiện đại Lá tre không chỉ ứng dụng làm thuốc mà còn được dùng để gói bánh Giảm bớt căng thẳng Chiết xuất flavonoid có trong lá tre có tác dụng chống oxy hóa ngăn chặn các tế bào khỏi bị tổn thương, giảm stress. Những chất chống oxy hóa chiết xuất từ lá tre hứa hẹn sẽ được ứng dụng trong thực tế nhằm phát triển các sản phẩm chức năng chiết xuất từ lá tre. Chống oxy hóa, kháng khuẩn Các thành phần polysaccharid hòa tan trong nước (NP) có khả năng ức chế sinh trưởng của các vi khuẩn như E.Coli, S. aureus và B. subtilis khi nồng độ NP nằm trong khoảng 0,50-50,0 mg / mL. Do đó, Kết luận rằng NP từ lá tre có thể được sử dụng như một chất chống oxy hóa diệt vi khuẩn tự nhiên. Một số bài thuốc dân gian 1. Trị cảm sốt, sốt cao, chảy máu chân răng Người bệnh dùng lá tre tươi khoảng 50-100g (khoảng 1 nắm tay) sắc nước uống . Nấu nồi xông hơi điều trị bệnh cảm hàn: Lá tre, Lá sả, Lá bưởi, Ngải cứu, Bạc hà, Tía tô, Hương nhu mỗi loại 1 nắm lớn đem rửa sạch rồi cho vào nồi đổ vừa nước sấp mặt lá, lấy lá chuối bịt kín miệng lại và đậy nắp nấu sôi. Người bệnh nên chùm kín chăn ngồi xông trong khoảng từ 15 – 20 phút, lưu ý xông trong phòng kín tránh gió lùa. 2. Chữa sốt cao co giật, phụ nữ kinh nguyệt kéo dài Bạn lấy vòi măng tre non hơ qua lửa vắt lấy nước hòa với nước gừng uống. 3. Chữa sốt cao, nhiễm trùng siêu vi Tinh tre tẩm nước gừng sao vàng tán nhỏ uống 2 lần, mỗi lần 12g. Bạn cũng có thể dùng lá tre phối hợp với cỏ mực, củ sắn dây, rễ tranh, rau má mỗi vị 20g sắc uống. Liều dùng, cách dùng và kiêng
Kỹ Thuật Trồng và Chăm Sóc Tre
Công Dụng Cây Tre Trước đây cây tre trồng dùng để chắn sóng, chống sụt lở bờ sông, bờ đê, làm nhà cửa, nông cụ, làm giấy, làm khí giới, sản xuất các mặt hàng thủ công mỹ nghệ, dụng cụ thể dục thể thao, nhạc cụ, bàn ghế, tủ giường chiếu từ thô sơ đến cao cấp, làm thuốc chữa bệnh, làm thực phẩm cho người. Đặc biệt ngày nay cây tre đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất vật liệu xây dựng như ván ép, bê tông nhẹ, ốp tường nền… thay thế gỗ và cốt thép. Tre trúc đã được người dân Việt Nam gây trồng từ lâu đời theo lối quảng canh, mục đích chủ yếu là khai thác thân cây tre một phần có kết hợp lấy măng. Những năm gần đây nước ta đã du nhập giống tre lấy măng chủ yếu từ Trung Quốc đem về trồng ở nhiều địa phương trong cả nước, theo hướng chuyên sản xuất măng. Ngày nay cây tre đóng vai trò quan trọng trong khí thải nhà kính, tre có thể hấp thụ lượng CO2 nhiều hơn tới năm lần so với cây thông. Trong khi mỗi loại cây đều có vai trò riêng trong hệ sinh thái, thì cây tre có tiềm năng cao trong việc chống lại một lượng lớn CO2 một cách hiệu quả. Ngoài ra, tre hấp thụ các chất ô nhiễm từ không khí, giúp cải thiện chất lượng không khí Tre Khổng Lồ Dendrocalamus Asper “Đá” – dòng tre bản địa đã gắn bó với vùng Núi Cấm – An Giang Đặc tính sinh học Cây tre Tre trúc là loài thực vật thuộc họ phụ Bambusoideae, họ Poaceae, lớp một lá mầm, là loài cây ưa sáng mọc nhanh. Trên thế giới người ta đã tìm gặp được 1250 loài, trong đó Châu Á chiếm 900 loài (72%) số còn lại ở Châu Phi, Nam Mỹ, không gặp loài nào có nguồn gốc tại Châu Âu và có rất ít loài bản địa ở Châu Úc. Việt Nam có 92 loài, phân bố từ miền núi, trung du đến đồng bằng trên cả hai miền nam bắc Việt Nam. Khác với cây thân gỗ, tre không có cấu tạo tượng tầng nên không có quy luật hình thành vòng năm, cây có một thân chính hình tròn, rỗng, suôn thẳng và hơi cong ở phần ngọn. Cây sinh sản bằng hai con đường hữu tính và vô tính, nhưng chủ yếu vẫn là sinh sản vô tính bằng thân ngầm hay thân khí sinh (gốc tre hay cành tre). Tre thường mọc thành bụi, mỗi bụi có nhiều thân khí sinh, các bụi tre xuất phát từ thân ngầm (Rhizomes). Các thân ngầm này lại xuất phát từ nách của thân ngầm cũ. Một khi măng nhú lên khỏi mặt đất với đường kính đạt kích thước của thân khí sinh và sau đó không tăng lên đáng kể, khi măng lớn lên, các mo rụng dần. Trên bề mặt của mo thường có nhiều lông tơ và tận cùng của mo có lá mo. Tiết diện ngang của măng thường có hình tròn, rỗng với vách mỏng hay dầy, khi măng nhú lên khỏi mặt đất có màu xanh và thường có lông tơ hay một lớp sáp bao bọc. Thông thường các đốt tre có hình vòng tròn, là nơi phát sinh cành và một vòng rễ ở bên dưới đặc trưng cho từng chi. Sự phân cành trên các đốt kế tiếp theo hướng đối xứng và so le nhau. Cành mang nhiều nhánh nhỏ theo một dạng thức đặc sắc cho từng chi. Thông thường các nhánh nhỏ có mang lá, lá hình lưỡi mác có kích thước thay đổi tùy theo loài. Phần lớn tre trúc mọc tự nhiên ở độ cao dưới 500m so với mặt nước biển, thích hợp ở vùng khí hậu nóng ẩm, có lượng mưa trung bình 1500mm-2500 mm/năm, nhiệt độ bình quân 21-270C, cây mọc thích hợp ở những đất có tầng canh tác dầy, nhiều mùn, ẩm, có thành phần cơ giới nhẹ và thoát nước tốt. Chọn Cây giống và nhân giống Các phương pháp nhân cây giống Khi sản xuất được mở rộng, nhu cầu về giống cũng tăng theo và phương pháp nhân giống cũng không ngừng cải tiến. Cây tre được nhân giống chủ yếu bằng phương pháp gieo hạt hoặc giâm cành. Cây tre có thể được trồng từ hạt. Hạt được thu nhận vào cuối vòng đời của cây tre và mỗi loài có mỗi chu kỳ khác nhau (3 – 120 năm). Cây tre sau khi ra hoa và kết hạt thì cây sẽ chết đi và phụ thuộc vào điều kiện địa lý, khí hậu hay thổ nhưỡng thì cây mới có thể ra hoa được. Cả 2 phương pháp nhân giống này là tương đối đơn giản, tiết kiệm và được thực hiện ở điều kiện vườn ươm. Tuy nhiên, phương pháp này có một số điểm hạn chế như hệ số nhân giống thấp, chất lượng cây giống kém vì các đoạn chồi thu nhận từ cây mẹ sẽ bị thoái hóa hoặc nhiễm virus sau vài thế hệ. Do đó, người dân luôn cần một số lượng lớn cây giống sạch bệnh để phục vụ sản xuất. Cây giống nuôi cấy mô được chứng minh là phương pháp hữu hiệu để nhân nhanh giống cây trồng với số lượng lớn trong thời gian ngắn và đồng nhất về kiểu gen. Sự thành công của phương pháp vi nhân giống phụ thuộc rất nhiều quy trình nhân giống với các giai đoạn nuôi cấy khác nhau (khử trùng mẫu cấy và tạo nguồn mẫu ban đầu; tái sinh chồi ; nhân nhanh chồi; ra rễ in vitro) và khả năng thuần hóa cây giống trong điều kiện vườn ươm. Trong điều
Bước nhảy vọt tỷ đô: Quốc gia châu Á vừa đạt vị trí số 1 thế giới, mục tiêu thế kỷ ngay trước mắt!
Quốc gia châu Á đó chính là Nhật Bản – Nền kinh tế lớn thứ 2 của châu lục. Báo cáo MSCI Carbon Markets mới nhất phát hành tháng 1/2025 của Công ty tài chính Mỹ MSCI cho biết, thị trường tín chỉ carbon toàn cầu vẫn ổn định ở mức 1,4 tỷ USD vào năm 2024. Tuy nhiên, thị trường này có thể bùng nổ lên tới 35 tỷ USD vào năm 2030. Đến năm 2050, con số này là 250 tỷ USD. Và Nhật Bản vừa là quốc gia dẫn đầu thị trường tín chỉ carbon thế giới khi nhu cầu toàn cầu về các giải pháp bền vững ngày càng tăng. Với các khoản đầu tư đáng kể – 70 tỷ USD dành cho tài chính khí hậu, các thỏa thuận song phương và các cách tiếp cận sáng tạo, nền kinh tế lớn thứ hai châu Á (là Nhật Bản – GDP đạt 4230,86 tỷ USD năm 2024) đang củng cố vị thế là quốc gia dẫn đầu trong quá trình phi carbon hóa. Từ việc xây dựng quan hệ đối tác quốc tế đến thúc đẩy các giải pháp dựa trên thiên nhiên, những nỗ lực này của Nhật Bản phù hợp với cam kết đạt được mức phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050, Carboncredits đánh giá trong một bài báo đăng ngày 20/1/2025. Hãy xem Nhật Bản đã, đang và sẽ làm gì để đạt được mục tiêu tham vọng nhưng hoàn toàn khả thi này như thế nào. Net Zero năm 2050: Mục tiêu thế kỷ với 70 tỷ USD Tại Hội nghị thượng đỉnh về khí hậu COP28, Thủ tướng Fumio Kishida tái khẳng định cam kết mạnh mẽ của Nhật Bản trong việc đạt được mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Trong bối cảnh thế giới đang phải đối mặt với những thách thức trong việc đạt được mục tiêu khí hậu 1,5 độ, Thủ tướng Kishida nhấn mạnh rằng các hành động thực hiện cho đến năm 2030 có vai trò quan trọng trong việc định hướng tương lai toàn cầu nói chung và Nhật Bản nói riêng. Nước này đặt mục tiêu giảm 46% lượng khí thải nhà kính vào năm 2030, với những nỗ lực đến nay đã góp phần giảm được 20%. Tokyo thậm chí còn phấn đấu giảm 50% lượng khí thải nhà kính vào năm 2030 để phù hợp với lời kêu gọi của Hội nghị thượng đỉnh G7 lần thứ 49 tổ chức tại Hiroshima năm 2023 về việc các quốc gia theo đuổi mục tiêu Net Zero thông qua các con đường cân bằng tăng trưởng kinh tế với an ninh năng lượng. Để đạt được mục tiêu tham vọng này, Chính phủ Nhật Bản đưa ra chiến lược tăng trưởng xanh kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường trên 14 lĩnh vực có tiềm năng cao. Chiến lược này tập trung vào việc: (1) Khử carbon cho điện thông qua năng lượng tái tạo, năng lượng hạt nhân và hydro; (2) Thúc đẩy quá trình điện khí hóa trong các lĩnh vực công nghiệp, giao thông và tiêu dùng; (3) Thực hiện cải cách về ngân sách, thuế và quy định, với dự báo cho thấy việc làm này có thể tạo ra mức tăng trưởng hàng năm là 2,6 tỷ USD vào năm 2050. Điện hạt nhân cũng là lĩnh vực được Nhật Bản chú trọng để tối đa hóa việc triển khai năng lượng sạch Riêng lĩnh vực năng lượng, Nhật Bản quyết tâm tối đa hóa việc triển khai năng lượng sạch; đồng thời mở rộng năng lượng mặt trời; và ủng hộ việc tăng gấp 3 công suất năng lượng tái tạo trên toàn cầu. Tokyo cam kết cung cấp chuỗi năng lượng bền vững và có kế hoạch chấm dứt việc xây dựng mới các nhà máy điện than trong nước. Với số tiền lên tới 70 tỷ USD dành cho tài chính khí hậu, Nhật Bản tiếp tục dẫn đầu các nỗ lực toàn cầu để chống lại biến đổi khí hậu. Dựa vào thiên nhiên để cứu hành tinh Các tín chỉ carbon đến từ nhiều dự án khác nhau, bao gồm: (1) Giải pháp dựa trên thiên nhiên: Như tái trồng rừng, bảo tồn rừng và lưu trữ carbon trong đất. (2) Năng lượng tái tạo: Các dự án như trang trại gió và mặt trời thay thế năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch. (3) Công nghệ thu giữ carbon: Thu giữ carbon trực tiếp từ không khí hoặc lưu trữ carbon trong đất thông qua than sinh học. Và Nhật Bản không chỉ tập trung vào vấn đề năng lượng sạch mà còn dựa vào thiên nhiên để “làm giàu”. Một trong những chiến lược đổi mới của Nhật Bản phải kể đến Tín chỉ loại bỏ carbon dựa trên thiên nhiên (NCRC) – một “mỏ vàng xanh” mới mà nước này đang khai thác. Một ví dụ đáng chú ý là quan hệ đối tác gần đây giữa Tập đoàn Marubeni Corporation và Công ty vận tải Mitsui OSK Lines, Ltd. (MOL) – cùng của Nhật, để thành lập một liên doanh có tên Marubeni MOL Forests, nhằm tạo ra, mua, bán và hủy bỏ Tín chỉ loại bỏ carbon dựa trên tự nhiên – thông qua các dự án trồng rừng và thu giữ carbon. Trong dự án khởi đầu, Marubeni MOL Forests có kế hoạch thành lập 10.000 hecta rừng mới tại Ấn Độ, hướng tới mục tiêu tạo ra tín chỉ carbon bắt đầu từ năm 2028. Ngoài việc giảm phát thải, các dự án này còn góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, cải tạo đất và quản lý tài nguyên nước. Cách tiếp cận kép này đảm bảo hành động vì khí hậu trong khi vẫn bảo vệ môi trường tự nhiên. Khu rừng cổ đại trên đảo Yakushima của Nhật
Ngành gỗ Việt Nam vừa lập kỷ lục mới: Thị trường phát triển bùng nổ qua 160 nước, thu về hơn 412.000 tỷ
Năm 2024 khép lại với một loạt kỷ lục về xuất khẩu của các ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam. Tổng cộng, kim ngạch xuất khẩu năm 2024 của nước ta tăng 14,3% so với cùng kỳ năm 2023, đạt 405,53 tỷ USD). Nếu như xuất khẩu gạo tiếp tục củng cố vị trí Top 3 thế giới (với 2 kỷ lục về sản lượng và giá trị), thì ngành dệt may tăng trưởng thần tốc để đưa Việt Nam vươn lên vị trí số 2 thế giới. Mới đây nhất, Tổng cục Hải quan tiếp tục thông báo kỷ lục mới mà ngành gỗ nước ta đạt được trong năm 2024. Cụ thể, trị giá xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 16,25 tỷ USD (tương đương 412.262.500.000.000 VND), tăng 20,3% so với năm 2023. Gỗ và các sản phẩm gỗ Việt Nam hiện nay có mặt tại 160 quốc gia và vùng lãnh thổ trên quy mô toàn cầu. Có được thành tựu đáng mừng này là kết quả của hành trình nỗ lực không ngừng nghỉ của ngành gỗ Việt Nam suốt một năm qua. Bước sang năm mới, Cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đánh giá triển vọng xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ trong năm 2025 rất tích cực, với mục tiêu xuất khẩu đạt khoảng 18 tỷ USD. Sản xuất xanh trong ngành gỗ: Biến thách thức thành lợi thế cạnh tranh Song song với tín hiệu khả quan này, các chuyên gia dự báo rằng, ngành gỗ nước ta có thể phải đối mặt với nhiều thách thức. Có thể kể đến sự cạnh tranh mạnh từ các đối thủ trong khu vực như Indonesia, Thái Lan và Malaysia; Quan trọng nhất, các thị trường lớn như châu Âu và Mỹ đang đòi hỏi rất khắt khe về xuất xứ gỗ bền vững, thân thiện môi trường. Điều này, đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động chuyển đổi xanh để đáp ứng các nhu cầu thị trường. Cổng thông tin Bộ Công thương trích lời ông Ngô Sỹ Hoài – Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Viforest) cho biết: “Hiệu lực của EUDR (Quy định của Liên minh Châu Âu (EU) không gây mất rừng và suy thoái rừng) đang đến gần, do đó Hiệp hội đang lập kế hoạch tổ chức đào tạo về thực hiện trách nhiệm giải trình, bảo đảm gỗ hợp pháp khi đưa vào chuỗi cung ứng và chuyển đổi xanh. Việc các quốc gia EU đã có yêu cầu về Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) – theo đó hàng hóa nhập khẩu vào EU sẽ phải chịu thêm chi phí và doanh nghiệp phải chuyển đổi mô hình sản xuất ít phát thải hơn để có tín chỉ carbon, Hiệp hội đang khuyến khích các doanh nghiệp bảo đảm sản xuất xanh, thương mại xanh, tăng trường xanh và tăng cường chuyển đổi số”. Liên quan đến tín chỉ carbon rừng, WTO Center cho biết, ngành công nghiệp gỗ Việt Nam có tiềm năng to lớn trong việc tăng doanh thu từ việc bán tín chỉ carbon. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Việt Nam có hơn 14 triệu hecta rừng, nếu được quản lý tốt, sẽ mang lại cơ hội cho đất nước tận dụng thị trường tín chỉ carbon. Việc Việt Nam – quốc gia đầu tiên ở khu vực Đông Á Thái Bình Dương – nhận được khoản chi trả 51,5 triệu USD từ Ngân hàng Thế giới (World Bank) do hạn chế được mất rừng và suy thoái rừng (gọi là REDD+) và tăng cường lưu trữ carbon thông qua trồng và tái tạo rừng cho thấy Việt Nam đang đến gần hơn với việc thực hiện các Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) đầy tham vọng của Chính phủ theo Thỏa thuận Paris về Biến đổi khí hậu, đồng thời bảo vệ các khu vực quan trọng cho bảo tồn đa dạng sinh học. PGS. TS. Nguyễn Đình Thọ – Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho biết, là một trong những quốc gia sản xuất gỗ và lâm nghiệp lớn nhất thế giới, Việt Nam đang có chính sách phát triển ngành lâm nghiệp theo hướng bền vững, bao gồm tài chính xanh và thị trường carbon, giúp giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu và giải quyết các thách thức về môi trường. Sự chuyển mình này cho thấy, các lãnh đạo ngành gỗ đang xem những yêu cầu khắt khe về tính bền vững, thân thiện môi trường của các thị trường EU, Mỹ là lợi thế để doanh nghiệp Việt đẩy mạnh mục tiêu sản xuất xanh. Phát triển bền vững sẽ là vấn đề trọng tâm để cải thiện đơn hàng và tăng doanh thu từ hoạt động xuất khẩu ra toàn thế giới. Bởi giảm phát thải carbon đã trở thành yêu cầu đối với hầu hết các ngành sản xuất. Nhu cầu gỗ toàn cầu bùng nổ Nhìn rộng ra trên thế giới, Viện Tài nguyên Thế giới (WRI) đánh giá: Nhu cầu gỗ toàn cầu dự kiến sẽ tăng 54% trong giai đoạn 2010-2050 do ngày càng có nhiều cây được sử dụng làm nhiên liệu và sản xuất các tòa nhà, đồ nội thất và sản phẩm giấy. Đến giữa thế kỷ, con người dự kiến sẽ san phẳng khoảng 3 triệu dặm vuông đất rừng — một diện tích tương đương với kích thước của lục địa Mỹ. Hệ quả, việc chặt cây tràn lan sẽ làm suy yếu những nỗ lực giảm lượng khí thải gây nóng lên toàn cầu. Bởi bản thân cây cối lưu trữ một lượng carbon khổng lồ trong thân, cành và rễ của chúng. Khi chúng bị chặt hạ, lượng carbon được lưu
Gừng đen có tác dụng gì mà được săn lùng đến vậy?
” Y học cổ truyền Việt Nam có nhiều vị thuốc quý. Một trong số đó là gừng đen. Trong bài viết này chúng ta sẽ cùng tìm hiểu gừng đen là gì và gừng đen có tác dụng gì. “ Nếu quan tâm đến các vị thuốc Đông y và phương pháp chữa bệnh bằng dược liệu, chắc hẳn bạn đã từng nghe đến vị thuốc có tên gừng đen. Nếu chưa biết gừng đen khác gừng thường ở chỗ nào? Gừng đen có tác dụng gì? Cách sử dụng gừng đen ra sao? Gừng đen là loại gừng gì? Gừng đen (tên khoa học Kaempferia parviflora) còn được biết đến với các tên gọi khác như ngải tím, ngải đen. Đây là loại thực vật thân thảo, thuộc họ gừng, có rất nhiều điểm tương đồng với gừng thông thường. Lá cây gừng đen to và cao khoảng 0,3 đến 0,5m, dạng trứng nhọn ở đầu khác hoàn toàn lá gừng ta. Hoa của cây gừng đen là những cụm màu trắng hoặc tím rất đẹp mắt. Bên ngoài, củ gừng đen có vỏ nâu khá giống với loại gừng thông thường chúng ta thường dùng. Tuy nhiên, củ gừng đen kích cỡ thường không lớn bằng, bên trong ruột màu tím đen chứ không phải màu vàng. Gừng đen có vị cay nồng và hơi đắng. Ở nước ta, gừng đen phân bố tự nhiên ở các tỉnh Tây Bắc hoặc Tây Nguyên. Ngày nay, gừng đen được nhân trồng rộng rãi khắp nơi để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng cao của người dùng. Từ xa xưa, gừng đen đã được sử dụng như một vị thuốc trong y học cổ truyền. Cây gừng đen với lá to khác biệt so với cây gừng thường Gừng đen có tác dụng gì? Gừng đen có tác dụng gì? Những công dụng của loại gừng này đối với sức khỏe được cả Đông y và Tây y công nhận. Có thể kể đến những tác dụng nổi bật của gừng đen như: 1. Tăng cường chức năng sinh lý nam giới Các nghiên cứu chỉ ra chiết xuất gừng đen có tác dụng trong việc điều trị chứng rối loạn cương dương. So với việc dùng các loại thuốc hay thực phẩm chức năng, dùng gừng đen không mang đến tác dụng phụ nên nam giới cảm thấy yên tâm hơn trong quá trình sử dụng. 2. Giúp phòng và chữa bệnh vẩy nến Trong chiết xuất gừng đen có chứa methoxy luteolin có tác dụng giúp các tế bào mast được giải phóng để ngăn ngừa tình trạng viêm nhiễm các tế bào và loại bỏ các thành phần protein có liên quan đến hình thành bệnh vảy nến. Chúng ta có thể dùng gừng đen để phòng ngừa và hỗ trợ điều trị bệnh vảy nến. 3. Làm chậm quá trình lão hóa Trong gừng đen có hàm lượng chất chống oxy hóa dồi dào và mạnh mẽ. Các chất chống oxy hóa này có tác dụng bảo vệ các tế bào khỏi quá trình oxy hóa và sự tấn công của các gốc tự do. Nhờ đó nó giúp làm chậm quá trình lão hóa của các tế bào trên cơ thể. Gừng đen được cho là có dược tính cao hơn gừng thường 4. Hỗ trợ tốt cho bệnh nhân tiểu đường Gừng đen có tác dụng gì? Đây là một vị thuốc hỗ trợ kiểm soát đường huyết, tốt cho bệnh nhân tiểu đường. Ngoài công dụng làm hạ đường huyết, gừng đen giúp tăng độ nhạy của insulin, giúp chuyển hóa đường hiệu quả và giảm hàm lượng đường trong máu. Điều này giúp làm chậm quá trình diễn tiến của bệnh, giảm nguy cơ biến chứng tiểu đường. 5. Cung cấp năng lượng cho cơ thể Gừng đen tăng cường hình thành và sản sinh năng lượng cơ thể bằng cách kích thích AMPK, protein kinase hoặc AMP, kích hoạt các mô mỡ nâu hoặc BAT. Không những giúp cơ thể khỏe mạnh, trí óc minh mẫn, điều này còn giúp đốt cháy calo, hạn chế tích tụ mỡ hiệu quả. Đây là cách mà gừng đen giúp chúng ta kiểm soát vóc dáng trong khi vẫn luôn cảm thấy đủ đầy năng lượng. 6. Kích thích lưu thông tuần hoàn máu Gừng vốn có tính ấm. Gừng đen khi được sử dụng đúng cách sẽ làm các mạch máu trong cơ thể giãn nở, kích thích lưu thông tuần hoàn máu. Điều này giúp giảm nguy cơ thiếu máu não. Máu được lưu thông đều đến cơ thể giúp chúng ta có cơ thể khỏe mạnh, da dẻ hồng hào, mái tóc đen khỏe. Ngoài những công dụng trên, gừng đen còn có tác dụng kháng khuẩn, chống nấm, hỗ trợ chữa viêm loét dạ dày. Gừng cũng tốt cho tinh thần nên nhiều nghiên cứu chứng minh gừng đen có thể hỗ trợ phòng ngừa và điều trị bệnh trầm cảm. Người dân Thái Lan còn dùng dược liệu này để chữa các bệnh tiêu chảy, kiết lỵ, hen suyễn, rong kinh ở phụ nữ,… Gừng đen có tác dụng gì đến đây bạn đã biết rồi chứ? 7. Chữa đau đầu, mất ngủ Nhờ có thể kích thích lưu thông tuần hoàn máu não nên gừng đen giúp chúng ta dễ dàng đi vào giấc ngủ hơn. Tinh dầu trong gừng đen có mùi thơm đặc trưng, giúp thư giãn tinh thần nên cũng hạn chế được chứng đau đầu. Cách chữa đau đầu bằng gừng đã được nhiều người áp dụng và khẳng định hiệu quả. Gừng đen trong Đông y có vị gay, tính ấm, quy vào phế, tỳ, vị. Gừng đen giúp cải thiện giấc ngủ, giúp dễ ngủ, ngủ ngon và sâu giấc hơn. Chúng ta có nhiều cách khác nhau đều sử dụng gừng đen. Bạn có thể dùng gừng tươi,
Với 1ha lúa giảm phát thải, nông dân Đắk Lắk thu thêm được 1,5 triệu đồng
Một doanh nghiệp Thái Lan đã đồng ý chi 20 USD để mua 1 tín chỉ carbon của nông dân trồng lúa ở Đắk Lắk khi có báo cáo giảm phát thải. Mức này gấp đôi giá Ngân hàng Thế giới cam kết chi trả ở đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao tại ĐBSCL. Không nằm trong Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030”, song trải qua 3 tháng trồng lúa theo phương thức tưới ướt – khô xen kẽ và bón phân theo quy trình phù hợp, vụ lúa này gia đình ông Lê Như Hùng ở xã Bình Hòa (Krông Ana, Đắk Lắk) giảm được một nửa lượng nước tưới, giảm 15% chi phí sản xuất, trong khi năng suất lúa tăng 2 tấn so với canh tác kiểu cũ. Với 4ha lúa trồng theo hướng giảm phát thải, gia đình ông vừa thu hoạch được gần 45 tấn thóc. Hiện, ông Hùng và nông dân tham gia trồng lúa giảm phát thải carbon tại xã Bình Hòa đang chờ bán tín chỉ carbon cho doanh nghiệp nước ngoài. Tại xã Bình Hòa có 42ha diện tích canh tác lúa được áp dụng theo quy trình tưới ướt khô xen kẽ của Viện Nghiên cứu Lúa quốc tế IRRI. Năng suất lúa dự kiến đạt 11 tấn/ha. Doanh nghiệp Thái Lan đồng ý chi trả 20 USD cho 1 tín chỉ carbon lúa ở Đắk Lắk. Ảnh minh họa: Hồ Hoàng Hải Theo tính toán, khi áp dụng phương pháp canh tác của Viện Nghiên cứu Lúa quốc tế IRRI, mỗi 1ha lúa sẽ tạo ra 3 tín chỉ carbon. Đơn vị thu mua tín chỉ carbon lúa ở Đắk Lắk là thành viên của Công ty Netzero Carbon Thái Lan đã quyết định chi trả 20 USD cho 1 tín chỉ. Như vậy, với 1ha giảm phát thải, nông dân thu thêm được 1,5 triệu đồng. Sau khi làm việc trực tiếp với địa phương, đơn vị thu mua cam kết chỉ cần ra báo cáo là mua ngay, không cần có đơn vị thứ 3 cấp tín chỉ carbon. Bởi, hiện tại thị trường quan trọng nhất là châu Âu chưa công nhận bất kỳ chứng nhận của tổ chức nào, nhưng báo cáo giảm phát thải được xây dựng dựa trên tiêu chí chuẩn và quy định của Liên hợp quốc. Ông Trần Minh Tiến – Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Net Zero Carbon Việt Nam cho biết, công ty đang chờ kết quả chính thức của Công ty Spiro Carbon (Mỹ) về kết quả giảm phát thải từ mô hình sản xuất lúa ở Đắk Lắk. Khi có số liệu cụ thể, công ty sẽ mua tín chỉ carbon, đồng thời trao chứng chỉ carbon sản phẩm lúa gạo đầu tiên của Việt Nam cho nông dân Đắk Lắk. Theo lãnh đạo Sở NN-PTNT tỉnh Đắk Lắk, toàn tỉnh sản xuất lúa ổn định trên diện tích 100.000ha. Nếu bán tín chỉ carbon thành công, vụ tới đây tỉnh sẽ mở rộng diện tích trồng lúa giảm phát thải để nông dân có thêm thu nhập, góp phần bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu. Ở nước ta diện tích gieo cấy lúa lên tới 7,1 triệu ha. Ngoài Đề án “Phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030”, nhiều địa phương đang áp dụng mô hình trồng lúa giảm phát thải hướng tới bán tín chỉ carbon. Đơn cử, tỉnh Nghệ An đang phối hợp Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tính toán triển khai tạo tín chỉ carbon chủ yếu từ giảm phát thải khí metan trong sản xuất lúa. Với diện tích trồng lúa trên 180.000ha, mỗi năm Nghệ An có tổng sản lượng lương thực trên dưới 1,1 triệu tấn/năm, đồng thời có tiềm năng giảm 1,44 triệu tấn CO2 tương đương. Dự án hợp tác nhằm phát hành tín chỉ carbon trong sản xuất lúa được bắt đầu triển khai thử nghiệm từ vụ xuân 2024. Ở mùa đầu tiên, dự án sẽ thực hiện trên diện tích gần 6.000ha lúa tại các huyện Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên, Đô Lương, Diễn Châu… với khoảng 24.000 hộ nông dân tham gia. Chia sẻ với PV.VietNamNet, ông Hà Sỹ Đồng – Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Quảng Trị cho biết, diện tích lúa hữu cơ của tỉnh đã lên tới con số 1.100ha. Xét về mặt khoa học và các tiêu chí để tham gia vào thị trường carbon thì nông nghiệp hữu cơ là hướng đi đầu tiên. Đây là mô hình thành công của tỉnh Quảng Trị để nhân rộng, từ đó hình thành các cánh đồng hữu cơ, tuần hoàn, xoá dần dấu chân carbon trên các mảnh vườn, thửa ruộng, ông Đồng cho hay. Ở Đề án 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và giảm phát thải ở ĐBSCL, Ngân hàng Thế giới ước tính vùng chuyên canh lúa theo đề án khi hình thành có thể giảm 10 triệu tấn carbon mỗi năm. Với giá 10 USD/tín chỉ carbon mà Ngân hàng Thế giới cam kết mua, 1 triệu ha nông dân có thể thu về khoảng 100 triệu USD/năm. Bên cạnh đó, ngành lúa gạo có thêm 16.000 tỷ đồng/năm từ việc giảm chi phí đầu vào và tăng giá thành sản phẩm đầu ra. Chưa kể, các yếu tố tăng thêm về giá trị trong quá trình xây dựng thương hiệu gạo giảm phát thải của Việt Nam. Hiện nay, trồng lúa giảm phát thải được triển khai tại một số tỉnh vùng ĐBSCL. Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Trần Thanh Nam cho hay, Văn phòng Ban chỉ
Tỉnh đầu tiên thu được tiền từ trồng lúa giảm phát thải CO2
Trong khi tại khu vực ĐBSCL mới chỉ thu hoạch được những vụ lúa sản xuất theo hướng giảm phát thải, thì Đắk Lắk đã là tỉnh đầu tiên ở nước ta bán được lượng giảm phát thải carbon từ lúa với giá 20 USD/1 tấn giảm CO2. Mới đây, Sở NN-PTNN tỉnh Đắk Lắk tổ chức tổng kết mô hình thí điểm “Giải pháp lúa xanh giảm phát thải và tăng năng suất được triển khai trong vụ đông xuân 2023–2024”. Tại hội nghị tổng kết này, Công ty Cổ phần Net Zero Carbon mua gần 17 tấn giảm khí CO2 từ mô hình trồng lúa của nông dân ở xã Bình Hoà (Krông Ana, Đắk Lắk). Mỗi tấn giảm carbon lúa này được mua với giá 20 USD. Tuy nhiên, đây không phải là giao dịch mua bán tín chỉ carbon (carbon credit) vì lượng giảm phát thải này chỉ được công nhận bởi Công ty Net Zero Carbon và mua lại bởi chính doanh nghiệp này, như một hình thức khuyến khích trồng lúa giảm phát thải. Đây là lượng giảm khí thải carbon đầu tiên từ lúa của Việt Nam được bán thành công từ mô hình thí điểm Giải pháp lúa xanh giảm phát thải và tăng năng suất tại Đắk Lắk. Mức giá này cũng cao gấp 2 lần giá tín chỉ carbon mà Ngân hàng Thế giới cam kết chi trả cho đề án 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp tại ĐBSCL. Đắk Lắk có kế hoạch mở rộng diện tích lúa giảm phát thải lên 500ha vào vụ Đông Xuân 2024-2025. Ảnh: Báo Đắk Lắk Trước đó, tại xã Bình Hoà, nông dân đã triển khai mô hình thí điểm sản xuất lúa giảm phát thải. Mô hình được áp dụng quy trình canh tác lúa tưới ướt – khô xen kẽ của Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế và áp dụng quy trình báo cáo xác nhận giảm phát thải của Công ty Cổ phần Net Zero Carbon. Sau hơn 3 tháng thực hiện, mô hình thí điểm này đã mang lại kết quả tích cực. So với mô hình đối chứng, năng suất lúa tăng gần 1 tấn/ha, chi phí đầu tư giảm được gần 10%, lợi nhuận tăng gần 20%. Đặc biệt, mô hình này giúp nông dân thay đổi phương pháp canh tác truyền thống, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, cải tạo đất lúa. Qua thử nghiệm, mô hình giúp giảm lượng phát thải được gần 17 tấn khí nhà kính (carbon), góp phần bảo vệ môi trường, lúa sạch hơn và sản xuất an toàn hơn. Từ kết quả bước đầu này, Sở NN-PTNT tỉnh Đắk Lắk sẽ triển khai ra 500 ha lúa trên toàn tỉnh trong vụ Đông Xuân 2024-2025. Qua đó, từng bước góp phần thực hiện các cam kết của Việt Nam với quốc tế về giảm phát thải ròng trong sản xuất nông nghiệp. Theo ông Nguyễn Văn Hà – Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Đắk Lắk, sở này sẽ vạch ra chương trình cụ thể với các địa phương, khuyến nông, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật. Cùng với đó, phối hợp chặt chẽ với cán bộ của công ty để xác định những vùng thực hiện nội dung này, đồng thời hướng dẫn cho người dân, các hợp tác xã thực hiện đúng quy trình để đạt được mục tiêu đề ra. Bởi, việc bán thành công tín chỉ carbon từ mô hình canh tác lúa xanh giảm phát thải tại xã Bình Hòa là cơ sở quan trọng để Đắk Lắk phát triển bền vững ngành hàng lúa gạo, nhằm gia tăng giá trị, nâng cao thu nhập cho người dân, nâng tầm mặt hàng này trở thành thế mạnh của tỉnh. Từ đó, sẽ góp phần cùng ngành lúa gạo Việt Nam chuyển đổi sang con đường phát triển xanh, bền vững. Nguồn bài viết: https://vietnamnet.vn/tinh-dau-tien-thu-duoc-tien-tu-trong-lua-giam-phat-thai-co2-2320861.html
Cách Kiếm Tiền Từ Tín Chỉ Carbon
Nhận 1,2 tỷ dù không cần thế chấp nhà, xe: Cách đầu tư mới khiến nhiều người bất ngờ. Không có tài sản thế chấp, Thứ mà Người Ông Dương được Ngân hàng Nông Thương Chiết Giang gợi ý một giải pháp vay. Đó là thế chấp “không khí” trong rừng tre để vay vốn. Thế chấp “không khí” trong rừng tre để vay vốn Không phải xe cộ, đất cát hay nhà ở, thứ người này mang thế chấp khiến nhiều người ngạc nhiên. ông Dương Trung Dũng Sinh ra và lớn lên giữa rừng tre xanh bát ngát, kế thừa và gắn bó với sự nghiệp trồng tre từ những năm 1995. Cho tới hiện tại, gia đình ông Dương đã sở hữu 8.000 mẫu tre và là một trong những hộ trồng tre và cung cấp tre lớn nhất nhì khu vực An Cát (Chiết Giang, Trung Quốc). Mùa hè năm 2022, do điều kiện thời tiết cực đoan, quê hương ông chịu nhiều tổn thất từ những cơn bão lớn. Trong đó, rừng tre của gia đình ông Dương là một trong những khu vực bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nhiều con đường được ông Dương dày công xây dựng để vận chuyển tre đã bị hư hại. Sau cơn bão, ông Dương muốn sửa lại đường nhưng trước đó gia đình đã thế chấp đất để vay khoản tiền đầu tư, hiện tại khoản nợ hàng trăm nghìn tệ còn chưa trả hết. Do đó việc vay thêm tiền để sửa chữa đường rất khó khăn. Đúng vào lúc rơi vào tình cảnh “tiến thoái lưỡng nan”, ông Dương được Ngân hàng Nông Thương Chiết Giang gợi ý một giải pháp. Đó là thế chấp “không khí” trong rừng tre để vay vốn. Bán tín chỉ carbon: Tiềm năng lớn trong ngành nông nghiệp Chia sẻ về khoản vay không khí của Ông Dương Khi nghe tới chuyện dùng “không khí” trong rừng tre để thế chấp, ông Dương ban đầu cảm thấy bất ngờ, thậm chí không tin có chuyện này. “Người ta thế chấp nhà, xe hay các tài sản có giá trị, chứ làm gì có ai lại thế chấp ‘không khí’ bao giờ”, ông Dương chia sẻ. Trước những điều ông Dương cho là không tưởng, ông Trương – giám đốc Ngân hàng Nông Thương An Cát khi đó đã ân cần giảng giải cho ông Dương về “khoản vay không khí”. Để có thể nhận được “khoản vay không khí” này, đầu tiên ông Dương cần hiểu về quy trình “giao dịch tín chỉ Carbon”. Ông Trương tới tận nhà trao đổi với ông Dương về “khoản vay không khí”. Ảnh: Baijia Hao Tín chỉ Carbon từ rừng tre như thế nào? Tín chỉ carbon (carbon credit) là thuật ngữ thể hiện một trong những biện pháp chủ chốt nhất được thiết lập với mục đích làm giảm lượng khí thải carbon trên toàn cầu. Đơn giản mà nói, những người sở hữu rừng cây rộng lớn, đạt tiêu chuẩn có khả năng hấp thụ khí CO2, góp phần làm giảm khí thải nhà kính và sự nóng lên của toàn cầu, sẽ đóng vai người bán tín chỉ carbon. Còn các xí nghiệp, nhà máy, công ty trong quá trình sản xuất, kinh doanh phát thải CO2 hoặc gây phát thải các loại khí nhà kính khác vượt mức quy định hiện hành sẽ “đóng vai” bên đi mua tín chỉ carbon. Khoản tiền mua – bán này sẽ được chính quyền minh bạch, hàng năm những khu rừng hợp lệ sẽ được chi trả 1 khoản tiền tương xứng. Rừng tre với diện tích khổng lồ của ông Dương khi đó được đánh giá phù hợp đăng ký trở thành bên “bán tín chỉ carbon”. Theo đo lường của chuyên gia, 1 mẫu tre tại đây có khả năng xử lý 1.6 tấn carbon. Nghe theo hướng dẫn và sự hỗ trợ của ngân hàng, tháng 7/2023 ông Dương đã đăng ký với chính phủ và thành công đưa 1.030 mẫu tre đạt tiêu chuẩn vào “sàn giao dịch carbon”. Theo giá carbon trên thị trường khi đó là 52,78 NDT/tấn (khoảng 170.000 đồng) nên hàng năm ông Dương có thể nhận thêm một khoản tiền là 86.000 NDT (khoảng 300 triệu đồng) nhờ bán không khí từ rừng tre. Dựa trên việc thế chấp “Tín chỉ carbon” này, ông Dương đã nhận được thêm một khoản vay 371.900 NDT (khoảng 1.2 tỷ đồng) từ ngân hàng để gây dựng lại rừng tre và đường xá bị hư hại. Câu chuyện ông Dương vay vốn bằng tín chỉ carbon đã lan truyền khắp An Cát khiến nhiều hộ trồng tre khác cũng muốn tham gia. Từ đây người dân huyện An Cát cũng dần tìm hiểu về khái niệm Tín chỉ carbon và cùng đồng lòng tham gia dự án đặc biệt này. Hành trình ĐỊNH GIÁ CARBON Và tầm nhìn tương lai Theo thống kê, tới tháng 12/2023, 51.000 hộ dân tại 167 thôn thuộc huyện An Cát đã quy hoạch thành công hơn 840.00 mẫu tre đạt chuẩn giúp xử lý 1,4 triệu tấn carbon. Rừng tre tại đây được mệnh danh là lá phổi xanh – “bể chứa carbon” quý giá. Trong đợt phát giá đầu tiên, người dân tại huyện An Cát đã nhận được số tiền lên tới 300 triệu NDT (khoảng 1000 tỷ đồng) cho việc bán “không khí” từ rừng tre. Có được thành quả này, bên cạnh sự đồng hành của người dân còn có sự cống hiến nhiều năm của nhóm nghiên cứu Đại học Nông Lâm Chiết Giang. Bắt đầu từ năm 2002, nhóm nghiên cứu của giáo sư Thi Dụng Quân (Đại học Nông Lâm Chiết Giang) đã bắt đầu nghiên cứu cách xác định một cách khoa học và nghiêm ngặt nguồn tài nguyên carbon có thể giao dịch của thực vật.
