Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết, nếu không có các biện pháp thích ứng, biến đổi khí hậu có thể làm giảm GDP của Việt Nam ít nhất 12,5% vào năm 2050 so với kịch bản cơ sở. Điều này như “xóa sạch” gần một thập kỷ tăng trưởng, cản trở đáng kể mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045. Theo Báo cáo Việt Nam 2045 – Tăng trưởng xanh hơn, con đường hướng tới tương lai bền vững của WB, tác động do biến đổi khí hậu không còn là câu chuyện môi trường mà là rủi ro kinh tế – tài chính lớn nhất của thế kỷ XXI. Nhiệt độ trung bình Việt Nam đã tăng 0,5 – 0,7 độ C kể từ 1960. Mỗi 1% tăng nhiệt độ kéo theo 3% sụt giảm năng suất nông nghiệp. Đồng bằng sông Cửu Long – vựa lúa của cả nước – có thể ngập gần một nửa diện tích khi mực nước biển dâng 1m, đe dọa sinh kế hàng triệu người và an ninh lương thực quốc gia. Tăng trưởng GDP sẽ chậm lại do biến đổi khí hậu. Không chỉ nông nghiệp, 70% dân số và 433 khu công nghiệp – nơi làm ra 90% hàng xuất khẩu nằm dọc các vùng duyên hải dễ bị ngập. Một cơn bão như Yagi (2024) có thể khiến Hải Phòng thiệt hại 955 triệu USD, làm tê liệt chuỗi cung ứng và cảng biển. Khoảng 71% doanh nghiệp may mặc và 74% doanh nghiệp điện tử đặt nhà máy ở khu vực chịu rủi ro nhiệt độ cao, ảnh hưởng đến 1,3 triệu lao động, trong đó 70% là phụ nữ. Căng thẳng nhiệt, gián đoạn điện, mưa lũ cực đoan khiến năng suất giảm và lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu bị bào mòn. Đến năm 2030, đường bộ hư hỏng do ngập lụt tăng 40%, các cảng biển lớn như TPHCM, Hải Phòng có nguy cơ ngập gấp 5 lần hiện nay, làm gián đoạn 68.000 – 106.000 tấn hàng hóa/ngày (thiệt hại ước 89 triệu USD/ngày). Hạ tầng yếu và bảo trì kém khiến thiệt hại lan truyền như hiệu ứng domino – một hành lang giao thông tê liệt có thể làm đình trệ cả mạng lưới logistics quốc gia. Biến đổi khí hậu là vấn đề kinh tế, không chỉ là thời tiết. Mỗi năm chậm trễ là mỗi năm GDP bị bào mòn. Hành động sớm – bằng đầu tư vào năng lượng sạch, đô thị chống chịu và nông nghiệp thích ứng không chỉ cứu môi trường mà còn bảo vệ năng lực cạnh tranh quốc gia. Biến đổi khí hậu không chỉ làm chậm tăng trưởng mà còn đe dọa thành quả giảm nghèo của Việt Nam trong nhiều thập kỷ. Theo WB, nếu không có hành động thích ứng , 100.000 – 1,1 triệu người có thể bị đẩy xuống dưới ngưỡng nghèo vào năm 2050. Nguy cơ này cao hơn ở nhóm lao động kỹ năng thấp, thu nhập thấp, và các hộ dân sống tại vùng ven biển, đồng bằng, nông thôn – nơi thiếu điều kiện bảo vệ sinh kế trước thiên tai. Tại Đồng bằng sông Cửu Long, xâm nhập mặn và nước biển dâng cao được dự báo sẽ làm chững lại nỗ lực giảm nghèo, gây tổn thất lâu dài về thu nhập đặc biệt trong nhóm dân cư thuộc 25% thấp nhất về thu nhập. Những biến động này, nếu không được kiểm soát, có thể khiến bất bình đẳng gia tăng 15% vào năm 2050. Theo WB, để đạt mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam cần duy trì tăng trưởng GDP thực khoảng 7%/năm trong hai thập kỷ tới – cao hơn mức bình quân 6,4% trong giai đoạn 2000 – 2020. Tuy nhiên, nếu tác động khí hậu khiến tăng trưởng giảm thêm 0,5 điểm phần trăm mỗi năm, mục tiêu này có thể bị trì hoãn nhiều năm. Đồng thời, thu ngân sách giảm và chi tiêu công tăng để khắc phục hậu quả thiên tai khiến cân đối tài khóa có thể thâm hụt thêm 0,8% GDP vào năm 2050. WB nhấn mạnh, biến đổi khí hậu không chỉ là thách thức môi trường mà là thách thức phát triển toàn diện, đòi hỏi Việt Nam phải tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh và bền vững hơn. WB nêu các khuyến nghị chính đối với Việt Nam: Đầu tư vào hạ tầng chống chịu khí hậu, ưu tiên giao thông, điện, nước, đô thị ven biển; chuyển đổi nông nghiệp thích ứng, đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long; phát triển năng lượng tái tạo, giảm phát thải và phụ thuộc nhiên liệu hóa thạch; xây dựng chính sách bảo hiểm rủi ro thiên tai và tăng cường mạng lưới an sinh cho nhóm dễ tổn thương. Nguồn theo: tienphong.vn
Loại rừng nào ở Việt Nam bán tín chỉ carbon được giá nhất
Chiến lược vàng cho rừng carbon Việt Nam Rừng trồng dưới 5 năm tuổi và quy mô ≥20 ha đang là lựa chọn thông minh để tối ưu tài chính và giá trị carbon. Trồng xen cây gỗ quý giúp bảo tồn đa dạng sinh học và tăng đoàn lợi nhuận dài hạn. Kết hợp tín chỉ và mô hình FSC là chiến lược toàn diện, hướng tới phát triển bền vững lâu dài. Rừng trồng mới dưới 5 năm tuổi là “vàng xanh” trong thị trường carbon Rừng trồng dưới 5 năm tuổi tạo ra tín chỉ carbon được giá gấp nhiều lần so với rừng tự nhiên, theo các chuyên gia. Việt Nam có tiềm năng về thị trường tín chỉ carbon rừng với lượng giao dịch 57 triệu tín chỉ mỗi năm, giá tùy cung – cầu ở từng thời điểm. Tín chỉ carbon (carbon credit) là một loại giấy phép hoặc chứng chỉ có thể giao dịch, có giá trị mua bán và cung cấp cho người nắm giữ tín chỉ quyền phát thải một tấn CO2 hoặc loại khí thải khác nằm trong danh sách khí thải nhà kính. Theo các chuyên gia, tín chỉ carbon (carbon credits) từ rừng trồng mới – đặc biệt là các diện tích trồng dưới 5 năm tuổi – đang có giá cao gấp nhiều lần so với tín chỉ từ rừng tự nhiên. Nguyên nhân là tốc độ hấp thụ CO₂ của cây non nhanh hơn, mang lại hiệu quả cao cho mục tiêu giảm phát thải , chất lượng tín chỉ carbon từ rừng phụ thuộc vào tuổi cây, cách chăm sóc cũng như cải tạo đất. Ví dụ, tín chỉ từ rừng dưới 5 năm tuổi hoặc trồng mới, phục hồi rừng (ARR) có chất lượng cao, giá vượt trội hơn so với rừng tự nhiên do khả năng hấp thụ carbon cao. Tổng quan về thị trường tín chỉ carbon rừng tại Việt Nam Thị trường lớn và đa dạng: Việt Nam có tiềm năng giao dịch khoảng 57 triệu tín chỉ carbon mỗi năm. Giá trị của mỗi đơn vị dao động mạnh, phụ thuộc vào chất lượng và tuổi rừng tại từng thời điểm. Ông Trần Quang Minh, Tổng giám đốc Công ty cổ phần thương mại và đầu tư tín chỉ carbon Việt Nam (Carbon Credits Vietnam), nói tín chỉ ARR đang được nhiều công ty công nghệ nước ngoài hỏi mua tại Việt Nam. Giá mua trung bình 20 USD một tín chỉ, cao gấp nhiều lần sản phẩm từ rừng trồng trước đây đang dần xuống giá do dư cung trên thị trường tự nguyện quốc tế. All Posts Tin tức Tín chỉ carbon và tài sản số có được thế chấp vay vốn ngân hàng? Read More Một “ông lớn” công nghệ muốn mua tín chỉ carbon rừng Việt Nam: Cơ hội vàng cho… Read More Giá trị tín chỉ rừng trồng và rừng tự nhiên Với rừng trồng mới (ARR), giá trung bình khoảng 20 USD/tín chỉ, được nhiều doanh nghiệp công nghệ quốc tế như Microsoft ưu tiên mua Trong khi đó, tín chỉ từ dự án REDD+ bán được cho Ngân hàng Thế giới với mức 5 USD/tấn CO₂, tương đương khoảng 1,2 triệu đồng/ha trong hai năm. Với rừng trồng ở giai đoạn trước, ngoài chất lượng tín chỉ thấp, số lượng tạo ra do hạn chế mất rừng cũng ít hơn, dẫn tới lợi ích tài chính không cao. Năm ngoái, Ngân hàng Thế giới (World Bank) trả 51,5 triệu USD cho Việt Nam do hạn chế mất và suy thoái rừng (REDD+). Khoản tiền này chi cho 10,3 triệu tấn CO2 giảm thải trên 51,5 ha đất. Tức là, mỗi ha thu được 5 USD, tương đương 120.000 đồng trong gần hai năm. Để nhận được khoản hỗ trợ giảm thải này, cần nhiều công sức kiểm kê, báo cáo, xác lập tín chỉ. Chi phí và rào cản xác lập tín chỉ Carbon Dự án REDD+ yêu cầu kiểm kê, giám sát nghiêm ngặt, sử dụng công nghệ như cloud, blockchain để đảm bảo minh bạch. Với phần việc đo đếm phát thải, người bảo vệ rừng phải ghi nhật ký hàng ngày. Công việc này cần công nghệ hỗ trợ như điện toán đám mây, blockchain nhằm đảm bảo tính chính xác và minh bạch của dữ liệu. Nhưng PGS. TS Nguyễn Đình Thọ, Viện trưởng Viện Chính sách, Tài nguyên và Môi trường, cho rằng khoản chi trả này chỉ mang tính chất “động viên”. “Quá trình này đòi hỏi chi phí lớn trong khi lợi ích mang lại chưa tương xứng”, ông Thọ nói tại tọa đàm về cơ hội, thách thức của thị trường tín chỉ carbon ở Việt Nam vào tháng trước. Bởi lẽ, chi phí liên quan đến phát triển dự án trên do World Bank hỗ trợ. Nếu tự thuê các đơn vị tư vấn, kiểm kê, phí có thể tới 3 USD cho mỗi tín chỉ, trong khi giá bán của loại tín chỉ từ hạn chế mất rừng khá thấp, khoảng 1,2-1,6 USD. Rừng tre khổng lồ tại Núi Cấm Lựa chọn loài cây phù hợp: dài hạn mới bền Với rừng trồng mới, chuyên gia gợi ý cần tính toán quy mô, loại cây, cách trồng nhằm đảm bảo bài toán tài chính khi bán tín chỉ. Ví dụ, về chọn cây trồng, một hợp đồng tín chỉ carbon trung bình 20 năm, đòi hỏi cây trồng có vòng đời dài tương ứng. Theo đó, các loài cây thu hoạch theo mùa vụ hoặc vòng đời ngắn 5 – 7 năm như keo, hồng… cần tránh. “Nông dân nên trồng xen canh với cây bản địa, khuyến khích trồng cây lấy gỗ như tre trồng 1 lần thu hoạch gỗ 50 năm hoặc xen với loài gỗ quý như gù hương, lim”, ông Trần Quang Minh nói. Những cây này có
Tín chỉ carbon và tài sản số có được thế chấp vay vốn ngân hàng?
Trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi xanh mạnh mẽ, nhiều doanh nghiệp và tổ chức đã bắt đầu đầu tư vào tín chỉ carbon, tài sản số và các hình thức kinh tế tuần hoàn. Một câu hỏi lớn đặt ra là: Liệu những loại tài sản phi truyền thống này có được chấp nhận thế chấp để vay vốn ngân hàng hay không? Tín chỉ carbon là gì và vì sao được xem là tài sản giá trị? Tín chỉ carbon (carbon credit) là một chứng nhận đại diện cho quyền phát thải một tấn CO₂ hoặc lượng tương đương khí nhà kính được giảm thải thông qua các dự án xanh như trồng rừng, năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng… Nhu cầu tín chỉ carbon đang tăng mạnh toàn cầu khi nhiều quốc gia và doanh nghiệp cam kết Net-Zero vào năm 2030–2050. Giá tín chỉ carbon dao động từ 5 – 50 USD/tín chỉ, tùy thuộc vào chất lượng và loại hình dự án. Tại Việt Nam, tiềm năng thị trường được ước tính lên đến hàng trăm triệu USD mỗi năm. Thế giới đã chấp nhận tài sản thế chấp kiểu mới Hội thảo “Tài sản bảo đảm ngân hàng – Những vấn đề quan tâm hiện nay” do Thời báo Ngân hàng tổ chức sáng 28/4, ông Giacomo Merello – Chủ tịch Hội đồng Thúc đẩy Kinh doanh tài sản Kỹ thuật số Antigua & Barbuda – cho hay, trên thế giới, một số nước đã cho phép sử dụng tài sản số nói chung, tiền mã hóa nói riêng làm tài sản thế chấp tại các ngân hàng. Thông thường, các loại tiền mã hóa được sử dụng để thế chấp tại ngân hàng là stablecoin (một loại tiền điện tử được tạo ra để theo dõi giá trị của một tài sản hoặc đồng tiền khác, thường tính theo đơn vị đô la Mỹ hoặc Euro, đơn cử như USDT, USDC…) hoặc một số loại tiền điện tử có giá trị lớn như bitcoin, ethereum. Đơn cử, Thụy Sĩ cho phép các ngân hàng cung cấp khoản vay được bảo lãnh bằng tiền mã hóa, song dịch vụ này chủ yếu cung cấp cho các quỹ đầu tư, các doanh nghiệp lớn, không áp dụng cho cá nhân nhỏ lẻ. Toàn cảnh hội thảo sáng 28/4. Theo bà Vũ Thị Vân Anh – Trưởng phòng Cao cấp Khối ESG – Công ty KPMG Việt Nam, tại Thái Lan, tín chỉ carbon có thể được sử dụng làm tài sản bảo đảm trong các khoản vay, đặc biệt là các dự án đầu tư thích ứng với biến đổi khí hậu, cung cấp một cách đo lường và quản lý rủi ro liên quan đến khí hậu. Một số quốc gia thành viên Liên minh châu Âu (EU) đã phân loại EUA (chứng chỉ phát thải của EU) là tài sản vô hình có thể chuyển nhượng, cho phép sử dụng nó làm tài sản thế chấp hoặc tài sản bảo đảm trong các giao dịch tài chính. All Posts Tin tức Một “ông lớn” công nghệ muốn mua tín chỉ carbon rừng Việt Nam: Cơ hội vàng cho thị trường xanh Read More Góc nhìn ngân hàng Việt về việc thế chấp tín chỉ carbon? Theo TS. Lê Thị Giang – Trường Đại học Luật Hà Nội, Tại Việt Nam, khung pháp lý cho tài sản số vẫn đang trong quá trình xây dựng. Đáng chú ý, Dự thảo Luật Công nghiệp công nghệ số đã bước đầu xác lập khái niệm tài sản số và quyền sở hữu với tài sản này. “Đây là bước đi quan trọng mở đường cho việc xác lập và giao dịch bảo đảm đối với tài sản số trong tương lai”, bà Giang nhấn mạnh. Riêng với tín chỉ carbon, đây là loại tài sản gắn với xu hướng chuyển đổi xanh và được quan tâm ngày càng nhiều trong lĩnh vực tài chính. Tuy nhiên, việc xác lập giao dịch bảo đảm đối với tín chỉ carbon vẫn chưa có quy định cụ thể trong pháp luật Việt Nam. Chính vì vậy, bà Giang cho rằng, nếu coi tài sản số, tín chỉ carbon là tài sản bảo đảm ngân hàng, ngân hàng sẽ e ngại bởi khi thực hiện bất kỳ giao dịch nào phải dựa trên cơ sở pháp lý được quy định rõ ràng. Hiện chưa có quy định pháp luật nào chỉ ra, ngoài các tài sản bảo đảm thông thường, truyền thống thì tín chỉ carbon, tài sản số có thể coi là tài sản bảo đảm. Luật sư Trương Thanh Đức – chuyên gia pháp chế ngân hàng – cho rằng, pháp luật về dân sự và pháp luật về bảo đảm đã định nghĩa tài sản bảo đảm gồm tài sản hiện hữu và tài sản hình thành trong tương lai. Tài sản số hay chứng chỉ carbon cũng có thể coi là một loại tài sản bảo đảm. Thậm chí, hai loại tài sản này còn được quyền sở hữu trong khi bất động sản chỉ có quyền sử dụng. “Muốn xác định tài sản bảo đảm có được thế chấp ngân hàng hay không thì cần xác định hai điều kiện: Tài sản đó có quyền sở hữu và không bị cấm giao dịch”, Luật sư Đức cho hay. Các chuyên gia nói gì về việc thế chấp tín chỉ carbon? Luật hiện hành tại Việt Nam chưa quy định cụ thể việc tín chỉ carbon hay tài sản số có thể dùng làm tài sản bảo đảm trong vay vốn ngân hàng. Vì vậy, các ngân hàng hiện vẫn thận trọng và dè dặt trong việc chấp nhận thế chấp bằng loại tài sản này. TS Nguyễn Quốc Hùng – Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam – nhận định: “Để tín chỉ carbon trở thành tài sản bảo đảm, cần có hành lang pháp lý rõ ràng, định giá
Một “ông lớn” công nghệ muốn mua tín chỉ carbon rừng Việt Nam: Cơ hội vàng cho thị trường xanh
Big Tech đi đầu trong phát thải cũng đang tiên phong trong nỗ lực “trung hòa carbon” Theo thông tin mới đây, một trong những tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới – đồng thời cũng nằm trong nhóm có lượng phát thải carbon lớn nhất – đang bày tỏ sự quan tâm đến việc mua tín chỉ carbon rừng của Việt Nam. Điều này không chỉ phản ánh xu hướng chuyển dịch toàn cầu hướng đến phát triển bền vững mà còn mở ra cơ hội lớn cho Việt Nam tham gia sâu hơn vào thị trường carbon quốc tế. Tại dự thảo Nghị định quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất bổ sung đối tượng mua kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng. Nguyên nhân là bên mua hiện tại đang bị giới hạn là tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh gây phát thải khí nhà kính lớn, theo Luật Lâm nghiệp 2017. Trong khi đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết nhiều đối tác quốc tế có nhu cầu mua tín chỉ carbon rừng của Việt Nam. Điển hình là tập đoàn lớn như Amazon, Eni (tập đoàn năng lượng Italy) hay Liên minh Giảm phát thải thông qua tăng cường tài chính cho rừng (LEAF). “Nếu đối tượng mua như quy định cũ, nhu cầu mua tín chỉ carbon rừng sẽ bị giới hạn và kém cạnh tranh so với các loại tín chỉ trong ngành nông nghiệp, chăn nuôi, năng lượng, giao thông, rác thải”, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết trong bản thuyết minh dự thảo. Việt Nam – điểm đến tiềm năng cho thị trường tín chỉ carbon rừng Động thái trên diễn ra trong bối cảnh Việt Nam có khoảng 14,79 triệu ha rừng, với tỷ lệ che phủ rừng hơn 42%. Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia có hệ sinh thái rừng đa dạng và tiềm năng cao để phát triển thị trường tín chỉ carbon rừng. Theo các chuyên gia, mỗi năm Việt Nam có thể cung cấp khoảng 40 triệu tín chỉ carbon, tương đương khoảng 200 triệu USD nếu định giá ở mức trung bình 5 USD/tín chỉ. Trước đó, Việt Nam đã thí điểm đã chuyển nhượng thành công 10,3 triệu tấn CO2 cho Ngân hàng Thế giới (World Bank), thu về 51,5 triệu USD (tương đương 1.256 tỷ đồng). Trong khi đó, nhiều công ty công nghệ hàng đầu trên thế giới đang có nhu cầu tăng cường mua tín chỉ carbon để bù đắp lượng phát thải ngày càng gia tăng. Theo báo cáo lượng khí thải nhà kính từ 200 công ty công nghệ hàng đầu thế giới của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), cơ quan thuộc Liên Hợp Quốc, lượng phát thải đã tăng 150% trong giai đoạn 2020–2023. Nguyên nhân chủ yếu do sự mở rộng của trí tuệ nhân tạo (AI) và các trung tâm dữ liệu. Vì sao Big Tech lại chọn Việt Nam? Cam kết trung hòa carbon và áp lực phát thải Các tập đoàn công nghệ lớn như Amazon, Microsoft, Apple… đều đang chịu áp lực cắt giảm lượng phát thải carbon khổng lồ từ các hoạt động vận hành, đặc biệt là trung tâm dữ liệu, logistics và sản xuất phần cứng. Để đạt mục tiêu net-zero (trung hòa carbon) vào năm 2040 hoặc sớm hơn, họ buộc phải: Tăng hiệu quả năng lượng nội bộ. Mua năng lượng tái tạo. Đầu tư vào tín chỉ carbon như một biện pháp bù trừ phát thải, trong đó tín chỉ rừng là lựa chọn phổ biến vì giá trị sinh thái và xã hội cao. Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về chi phí và tính pháp lý So với các quốc gia trong khu vực, Việt Nam đang có nhiều lợi thế: Chi phí quản lý và vận hành thấp. Khung pháp lý đang hoàn thiện với Nghị định chi trả dịch vụ môi trường rừng carbon, giúp minh bạch và kiểm soát giao dịch. Có các dự án thí điểm thành công như hợp tác với Ngân hàng Thế giới (WB) bán 10,3 triệu tấn CO₂ và thu về hơn 51 triệu USD. All Posts Tin tức ‘Ông trùm’ Amazon muốn mua tín chỉ carbon rừng Việt Nam July 8, 2025/No Comments Việt Nam đang trở thành điểm đến tiềm năng trên thị trường tín chỉ carbon rừng, khi nhiều tập… Read More Khung pháp lý đang được hoàn thiện để đón “làn sóng xanh” Nghị định mới cho phép tổ chức quốc tế tham gia Khác với quy định trước đây chỉ cho phép doanh nghiệp trong nước mua tín chỉ carbon, dự thảo Nghị định mới cho phép doanh nghiệp, tổ chức quốc tế có thể tham gia mua tín chỉ carbon rừng tại Việt Nam. Điều này không chỉ giúp mở rộng thị trường, nâng giá trị tín chỉ, mà còn giúp Việt Nam: Thúc đẩy đầu tư quốc tế vào lĩnh vực môi trường. Tăng nguồn tài chính cho công tác bảo vệ rừng và phát triển sinh kế địa phương. Định giá minh bạch và sàn giao dịch carbon Dự thảo nghị định cũng quy định cụ thể: Bộ NN&PTNT ban hành phương pháp định giá tín chỉ carbon. Các địa phương xây dựng bảng giá chi tiết dựa trên tình hình rừng thực tế. Trường hợp chưa có bảng giá, giao Bộ thương lượng với bên mua, trình Thủ tướng phê duyệt. Ngoài ra, Chính phủ đang từng bước xây dựng sàn giao dịch tín chỉ carbon để: Minh bạch hóa quy trình mua – bán. Tăng tính cạnh tranh và niêm yết công khai giá trị giao dịch. Theo báo cáo lượng khí thải nhà kính từ 200 công ty công nghệ hàng đầu thế
‘Ông trùm’ Amazon muốn mua tín chỉ carbon rừng Việt Nam
Việt Nam đang trở thành điểm đến tiềm năng trên thị trường tín chỉ carbon rừng, khi nhiều tập đoàn lớn như Amazon và Eni bày tỏ mong muốn mua số lượng lớn tín chỉ từ các dự án hấp thụ và lưu giữ carbon tại rừng tự nhiên. Đối tượng quốc tế gia nhập thị trường tín chỉ carbon rừng Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) đang lấy ý kiến đóng góp dự thảo nghị định quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng. Tại dự thảo, Bộ NN&MT cho biết nhiều đối tác quốc tế có nhu cầu mua tín chỉ carbon rừng của Việt Nam như Liên minh Giảm phát thải thông qua tăng cường tài chính cho rừng (LEAF) và một số doanh nghiệp lớn nước ngoài như Amazon (Mỹ), Eni (Ý). Bộ NN&MT đề xuất mở rộng đối tượng mua tín chỉ carbon rừng ra cả các tổ chức, cá nhân nước ngoài. Đây là bước ngoặt so với quy định hiện hành theo Luật Lâm nghiệp 2017, vốn chỉ cho phép các doanh nghiệp trong nước gây phát thải lớn được phép mua. Vì sao phải mở rộng đối tượng mua? Thúc đẩy tính cạnh tranh cho thị trường Theo Bộ NN&MT, nếu tiếp tục hạn chế đối tượng mua như quy định cũ, thị trường tín chỉ carbon rừng sẽ kém hấp dẫn, khó cạnh tranh với các tín chỉ carbon trong lĩnh vực năng lượng, giao thông, nông nghiệp hay xử lý rác thải – vốn đã có hệ sinh thái thị trường rõ ràng và quy mô lớn. Thúc đẩy tính cạnh tranh cho thị trường Bên cạnh việc mở rộng cho các tổ chức quốc tế, dự thảo Nghị định cũng bổ sung thêm đối tượng doanh nghiệp trong nước có phát thải thấp nhưng có nhu cầu mua tín chỉ carbon nhằm phục vụ chiến lược giảm phát thải tự nguyện. Đây được xem là cú hích thúc đẩy hình thành thị trường tín chỉ tự nguyện trong nước, góp phần lan tỏa hành động khí hậu đến nhiều lĩnh vực. Khung pháp lý hoàn chỉnh: Hướng tới sàn giao dịch carbon Hiện nay, Việt Nam đã bước đầu gặt hái kết quả từ việc chuyển nhượng tín chỉ carbon rừng. Từ năm 2022, chương trình thí điểm tại vùng Bắc Trung Bộ đã bán thành công 10,3 triệu tấn CO₂ cho Ngân hàng Thế giới (World Bank), thu về 51,5 triệu USD. 6 tỉnh tham gia gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Ngoài ra, hai tỉnh Lào Cai và Sơn La cũng được đồng ý thí điểm nhưng chưa thể triển khai do thiếu khung pháp lý toàn diện. Thêm quy định rõ ràng về chuyển nhượng Để tháo gỡ nút thắt này, dự thảo mới quy định cụ thể về cách thức chuyển nhượng, định giá tín chỉ và hình thức chi trả dịch vụ hấp thụ carbon. Với diện tích rừng thuộc sở hữu toàn dân mọi giao dịch phải đảm bảo phải đảm bảo nguyên tắc đóng góp đủ lượng NDC (đóng góp do quốc gia tự quyết định) được phân bổ cho lĩnh vực lâm nghiệp. Dự thảo quy định rõ cơ chế chuyển nhượng, xác định giá và hình thức chi trả dịch vụ hấp thụ carbon. Các giao dịch rừng thuộc sở hữu toàn dân phải đảm bảo đủ mức đóng góp NDC cho lĩnh vực lâm nghiệp (3,5% tổng cam kết đến năm 2030) Phương pháp định giá do Bộ NN&MT ban hành, các tỉnh sẽ xây dựng bảng giá địa phương làm căn cứ để đưa vào sàn giao dịch. Trường hợp chưa có bảng giá, Bộ thương thảo, báo cáo Thủ tướng phê duyệt Hai hình thức chi trả linh hoạt Về cơ chế giá, Bộ NN&MT sẽ ban hành phương pháp định giá tín chỉ carbon, còn UBND các tỉnh chịu trách nhiệm ban hành bảng giá tín chỉ cụ thể tại địa phương. Đây sẽ là cơ sở để thiết lập mức giá khởi điểm trên sàn giao dịch carbon trong nước. Trường hợp chưa có bảng giá, Bộ sẽ trực tiếp đàm phán và trình Thủ tướng quyết định. Cơ chế giá này cũng được khuyến nghị áp dụng cho rừng trồng của tổ chức, hộ gia đình. Ngoài ra, dự thảo quy định hai hình thức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon. Một là chi trả trực tiếp thông qua hợp đồng hoặc sàn giao dịch các bon. Hai là chi trả gián tiếp thông qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng, với sự ủy thác của bên sử dụng dịch vụ. Thành tựu bước đầu và tiềm năng thị trường Sự hoàn thiện khung pháp lý và định hình rõ ràng cơ chế vận hành thị trường tín chỉ carbon rừng là nền tảng để Việt Nam không chỉ thu hút dòng vốn xanh quốc tế mà còn thúc đẩy doanh nghiệp nội địa chuyển đổi theo hướng phát triển bền vững. Đây cũng là công cụ tài chính hữu hiệu để bảo vệ tài nguyên rừng, tăng cường sinh kế cho cộng đồng và khẳng định vai trò của Việt Nam trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu toàn cầu. Có kết quả thí điểm ấn tượng Từ năm 2022, chương trình thí điểm tại vùng Bắc Trung Bộ đã bán thành công 10,3 triệu tấn CO₂ cho Ngân hàng Thế giới (World Bank), thu về 51,5 triệu USD. 6 tỉnh tham gia gồm Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Hai tỉnh khác (Lào Cai, Sơn La) cũng được cấp phép thí điểm nhưng chưa triển khai do thiếu khung pháp lý đủ rộng. Tiềm năng to lớn về tín chỉ carbon Với gần 14,8 triệu ha rừng, tỷ lệ che phủ






