(+84) 984 810 101

vietstarbamboo@gmail.com

Theo dõi chúng tôi qua

Edit Template

Chuyển đổi xanh, “anh em” sinh đôi với chuyển đổi số – “thị thực” đưa nông sản Việt Nam vào thị trường lớn

Chia sẻ bài viết

Mô hình “Canh tác lúa bền vững hướng đến tương lai – Bayer ForwardFarming” – một trong những mô hình tiêu biểu được triển khai tại Đồng bằng sông Cửu Long trên cơ sở hợp tác giữa Bayer và Trung tâm Khuyến nông Quốc gia. Ảnh: Bayer

Nếu giấy phép xuất khẩu giống như “hộ chiếu”, thì tiêu chuẩn ESG (Môi trường, xã hội, quản trị doanh nghiệp) và dấu chân carbon chính là “thị thực” để hàng hóa được chấp nhận tại các thị trường khó tính. Điều này đòi hỏi toàn bộ chuỗi sản xuất nông nghiệp phải thay đổi theo hướng minh bạch, phát thải thấp và có khả năng kiểm chứng.

Chuyển đổi xanh không còn là khẩu hiệu, mang tính quyết định đối với nông nghiệp Việt Nam

Ông Đặng Huy Đông – Chủ tịch Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam nhận định như trên tại Hội thảo “Chuyển đổi xanh trong nông nghiệp: Cơ hội cho doanh nghiệp và hợp tác công – tư (PPP)”, do Tổng hội Nông nghiệp và PTNT Việt Nam tổ chức mới đây. Ông Đông cho rằng, cùng với chất lượng sản phẩm, các báo cáo ESG, kiểm toán carbon và mức phát thải khí nhà kính đang trở thành điều kiện bắt buộc đối với hàng hóa nông nghiệp.

Theo ông Đông, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số là hai động lực song hành (chuyển đổi kép) mang tính quyết định đối với nông nghiệp Việt Nam. Số hóa tạo ra dữ liệu minh bạch và truy xuất nguồn gốc, trong khi xanh hóa đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe. Cả hai cùng tạo nên “tấm thị thực” để nông sản tiến vào các thị trường cao cấp, phát thải thấp như EU, Mỹ hay Nhật Bản.

Chuyển đổi xanh hiện nay không còn là khẩu hiệu hay mang tính lựa chọn tùy thuộc ý thức hành vi của mỗi người, mà là điều kiện bắt buộc tuân thủ cho hàng hóa xuất khẩu vào các thị trường lớn của Việt Nam.

“Thực tế các thị trường lớn cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam như EU, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Đông, Hoa Kỳ và thậm chí cả Trung Quốc đã và đang thắt chặt việc tuân thủ quy định về phát thải khí nhà kính, mục tiêu Netzero, ứng phó biến đổi khí hậu theo cam kết tại COP 26, báo cáo ESG và kiểm toán carbon được ví như tấm “visa” cho mọi hàng hóa ra khỏi Việt Nam. Nó là bắt buộc. Nhà nước có thể cấp cho hàng hóa giấy phép xuất khẩu, thì đó mới chỉ là tấm hộ chiếu cấp cho công dân. Có đặt chân lên đất nước họ cần phải có tấm thị thực đó”, ông Đặng Huy Đông khẳng định.

Trên cơ sở đó, ông Đông cho biết Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam đang triển khai mô hình “Nông nghiệp xanh – phát thải thấp theo chuỗi giá trị quy mô vùng”, với 3 trụ cột chính: Tiếp cận toàn diện các khâu trong chuỗi giá trị sản phẩm một vùng nuôi trồng bằng các công nghệ xanh vừa giúp giảm phát thải khí nhà kính vừa tạo tín chỉ carbon giá cao; Áp dụng trên quy mô lớn, toàn vùng nuôi, trồng nâng cao chất lượng ổn định và hiệu quả kinh tế cao; Sự đồng hành hỗ trợ của các cơ quan nhà nước các cấp.

Lắp đặt thiết bị đo khí thải tại Viện IRRI - mô hình thuộc Đề án 1 triệu ha lúa. Ảnh: Vietrisa
Lắp đặt thiết bị đo khí thải tại Viện IRRI - mô hình thuộc Đề án 1 triệu ha lúa. Ảnh: Vietrisa

Ở quy mô cả nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang triển khai rộng khắp Đề án “Sản xuất trồng trọt giảm phát thải giai đoạn 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050” và đến nay đã có 22 tỉnh, thành phố xây dựng kế hoạch triển khai Đề án. Mục tiêu trọng tâm của giai đoạn 2026-2030 là hình thành nền sản xuất nông nghiệp phát thải thấp trên quy mô lớn, gắn với kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số và quản lý tài nguyên hiệu quả.

Quá trình chuyển đổi đang được triển khai đồng bộ trên nhiều ngành hàng xuất khẩu chủ lực. Trong đó, với ngành lúa gạo, các mô hình tưới ngập khô xen kẽ (AWD), quản lý rơm rạ và cơ giới hóa đồng bộ đang được nhân rộng trong khuôn khổ Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp vùng ĐBSCL.

Bà Đỗ Thị Hương, đại diện Viện Tăng trưởng xanh toàn cầu (GGGI) cho biết, kỹ thuật AWD không chỉ giúp giảm phát thải khí methane mà còn tiết kiệm nước tưới, giảm chi phí đầu vào và cải thiện chất lượng hạt gạo. Trong bối cảnh gạo chất lượng cao ngày càng được thị trường ưu tiên, đây được xem là giải pháp quan trọng để nâng giá trị xuất khẩu thay vì cạnh tranh bằng sản lượng.

Đối với ngành cà phê, các địa phương vùng Tây Nguyên và Sơn La đang thúc đẩy mô hình sản xuất tuần hoàn, sử dụng phân bón hữu cơ, tiết kiệm nước tưới và tận dụng phụ phẩm nông nghiệp. Nhiều doanh nghiệp cho rằng việc chuyển đổi sang mô hình cà phê phát thải thấp sẽ giúp ngành hàng này thích ứng tốt hơn với các yêu cầu mới của thị trường châu Âu liên quan đến phát triển bền vững và chống suy thoái môi trường.

Trong khi đó, các ngành hàng trái cây như sầu riêng, thanh long, xoài cũng đứng trước áp lực phải thay đổi quy trình sản xuất để đáp ứng tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe từ thị trường nhập khẩu. Các yêu cầu về dấu chân carbon, quản lý nước, truy xuất nguồn gốc hay xử lý phụ phẩm đang dần trở thành điều kiện bắt buộc trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thiết bị đo khí thải tại mô hình trồng lúa - công cụ đánh giá tuân thủ thực hành canh tác 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Ảnh: Vietrisa
Thiết bị đo khí thải tại mô hình trồng lúa - công cụ đánh giá tuân thủ thực hành canh tác 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp. Ảnh: Vietrisa

Người dân phải được hưởng lợi từ chuyển đổi xanh

Một trong những vấn đề được nhiều địa phương và chuyên gia nhấn mạnh là chuyển đổi phát thải thấp chỉ có thể bền vững khi người dân nhìn thấy lợi ích kinh tế rõ ràng.

Tại nhiều vùng sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long, nông dân bước đầu ghi nhận hiệu quả từ mô hình giảm phát thải thông qua các kỹ thuật giảm lượng giống gieo sạ, tiết kiệm nước, giảm phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Tuy nhiên, khoảng cách giá trị giữa sản phẩm phát thải thấp và sản phẩm sản xuất truyền thống hiện chưa thật sự rõ nét.

Theo các chuyên gia, nếu không xây dựng được cơ chế thị trường phù hợp thì rất khó để duy trì sự tham gia lâu dài của người dân, bởi chuyển đổi xanh đòi hỏi thay đổi tập quán sản xuất cũng như đầu tư thêm chi phí ban đầu.

Do đó, việc xây dựng nhãn hiệu “nông sản phát thải thấp”, cấp mã số vùng trồng và thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc được xem là giải pháp quan trọng để gia tăng giá trị sản phẩm.

Nông dân tham quan Mô hình "Canh tác lúa bền vững hướng đến tương lai – ForwardFarming" do Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Công ty TNHH Bayer Việt Nam thực hiện tại xã Đông Thuận, huyện Thới Lai, TP.Cần Thơ. Ảnh: Huỳnh Xây
Nông dân tham quan Mô hình "Canh tác lúa bền vững hướng đến tương lai – ForwardFarming" do Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với Công ty TNHH Bayer Việt Nam thực hiện tại xã Đông Thuận, huyện Thới Lai, TP.Cần Thơ. Ảnh: Huỳnh Xây

Một vấn đề mấu chốt, đó là chuyển đổi sang nông nghiệp xanh, phát thải thấp đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn, trong khi ngân sách nhà nước khó có thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu. Trước thực tế đó, các sáng kiến hợp tác công – tư (PPP) giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và đối tác quốc tế đã và đang mang lại những giải pháp thiết thực nhằm quản lý hiệu quả sâu bệnh, tài nguyên đất, nước, dinh dưỡng; đồng thời hỗ trợ nông dân ứng dụng tiến bộ khoa học, thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu theo định hướng của Chính phủ.

Đại diện Viện Tăng trưởng xanh toàn cầu (GGGI) cho biết, tổ chức này đã huy động hơn 400 triệu USD cho các dự án đầu tư xanh tại Việt Nam, trong đó hơn 300 triệu USD từ nguồn trái phiếu xanh.

Nhiều công nghệ mới cũng đang được triển khai nhằm hỗ trợ quá trình chuyển đổi, trong đó có hệ thống Digital MRV phục vụ đo lường, báo cáo và thẩm định lượng phát thải giảm được trong sản xuất nông nghiệp.

Theo giới chuyên gia, việc xây dựng hệ thống MRV đồng bộ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ phục vụ quản lý phát thải mà còn là nền tảng để thương mại hóa tín chỉ carbon trong tương lai.

Hiện, các ngân hàng thương mại như Agribank, BIDV, VietinBank đang cung cấp các gói tín dụng xanh, tài trợ vốn cho các dự án đáp ứng tiêu chí bảo vệ môi trường, giảm phát thải carbon và đạt tiêu chuẩn ESG.

Tại Hội thảo “Chuyển đổi xanh trong nông nghiệp: Cơ hội cho doanh nghiệp và hợp tác công – tư (PPP)”, các chuyên gia cũng gợi ý, thay vì tài trợ phân tán, manh mún, các ngân hàng và tổ chức cần hướng tới việc cấp vốn theo cả hệ sinh thái chuỗi giá trị (từ nông dân, hợp tác xã đến doanh nghiệp thu mua và xuất khẩu).

Thông qua hệ sinh thái tài chính xanh và chuỗi giá trị liên kết, Nhà nước kiến tạo cơ chế, doanh nghiệp dẫn dắt công nghệ, trực tiếp giúp nông dân cải thiện thu nhập, tạo ra nông sản đạt chuẩn xuất khẩu.

Thông tin liên lạc

Website này được tạo bởi @websitemarketing365.com